Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

Dịch có trong tử cung khi mang thai cảnh báo điều gì

Siêu âm có dịch trong tử cung có làm sao không là câu hỏi được không ít các chị em đặt ra. Vậy nguyên nhân gây ra hiện tượng này là gì và cách xử lý như thế nào? Mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây cùng xét nghiệm trước sinh gentis để hiểu rõ về hiện tượng này nhé.

Có dịch trong tử cung khi mang thai cảnh báo điều gì

1. Tìm hiểu về hiện tượng ứ dịch trong tử cung

Khái niệm ứ dịch trong tử cung

Ứ dịch ở trong tử cung là hiện tượng các chất dịch như máu, mô, nước, nhau không thể thoát ra ngoài theo đường âm đạo mà tồn đọng lại trong tử cung người phụ nữ. Hiện tượng ứ dịch tử cung thường chỉ xảy ra sau khi phá thai hoặc sinh nở. Những dịch nhầy bị ứ đọng này sẽ không thể được phát hiện nếu không thực hiện khám xét bằng các phương pháp xét nghiệm sản khoa. 

Ứ dịch tử cung được hình thành như thế nào?

Khi người phụ nữ sinh con hoặc nạo phá thai, phần nhau sẽ được thoát ra ngoài. Sau đó tử cung của người mẹ sẽ co lại nhằm cầm máu và hạn chế mất máu. Lúc vừa sinh, phần tử cung còn to và phình, nếu sờ vào khu vực dưới rốn sẽ cảm nhận được. Tuy nhiên phần tử cung này sẽ co lại sau một thời gian, khi sờ vào sẽ không cảm nhận được nữa. 
Trong quá trình tử cung co lại, các chất ứ dịch sẽ được co bóp đồng thời đào thải ra bên ngoài theo đường âm đạo, những chất này còn được gọi là sản dịch. 

Vậy tại sao lại có ứ dịch trong tử cung? 

Đó là do sau khi sinh hoặc phá thai, sức khỏe người mẹ còn yếu do mất máu nhiều, ít đi lại vận động, vì thế sản dịch chưa đi ra ngoài hết. Hoặc có những trường hợp sinh mổ khi chưa chuyển dạ, tử cung chưa mở ra vì vậy dịch ở bên trong khó thoát ra bên ngoài dẫn đến ứ đọng. Ngoài ra các nhà khoa học cũng cho rằng phụ nữ trên 35 tuổi khi mang thai sẽ có nguy cơ ứ đọng dịch cao hơn.

Ứ dịch tử cung có nguy hiểm không?

Ứ dịch tử cung nếu không được xử lý kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng sau:
  • Làm giảm chất lượng cuộc sống, khiến cơ thể mệt mỏi, kém tập trung.
  • Có ảnh hưởng đến sinh hoạt vợ chồng, khiến chị em giảm đi ham muốn và khoái cảm tình dục.
  • Gây ra các căn bệnh phụ khoa khác ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ.
  • Có thể gây băng huyết và nhiễm trùng phụ khoa. 
  • Nguy cơ gây vô sinh.
Ứ dịch trong tử cung xuất hiện sau khi sinh hoặc phá thai

2. Phương pháp thăm khám giúp phát hiện có dịch trong tử cung

Xuất hiện dịch trong tử cung tuy không ảnh hưởng đến tính mạng nhưng nó có thể gây ra các biến chứng, do vậy chị em không nên chủ quan với bất kỳ dấu hiệu nào. Nếu thấy có hiện tượng bất thường, chị em cần đi kiểm tra để chẩn đoán và có biện pháp điều trị kịp thời. Và một trong những phương pháp được nhiều người lựa chọn đó là siêu âm.  độ mờ da gáy đo ở tuần bao nhiêu thai kì.
Hiện nay có rất nhiều trường hợp phụ nữ bị ứ dịch mà không biết, đến khi đi siêu âm có dịch trong tử cung mới biết. 
Sau khi siêu âm phát hiện ứ dịch trong tử cung, đối với các trường hợp ứ dịch nhưng chưa có hiện tượng bị viêm nhiễm, cơ thể mới bắt đầu ra huyết ở âm đạo thì việc điều trị sẽ dễ dàng hơn. Còn đối với những trường hợp để bệnh nặng, không được phát hiện kịp thời thì việc điều trị sẽ tốn kém hơn về tiền bạc và thời gian.
Vì vậy tốt nhất là các trường hợp phụ nữ sau khi sinh hoặc nạo phá thai nên lưu ý các dấu hiệu bất thường và đi thăm khám sớm nhằm tránh những biến chứng nguy hiểm xảy ra.
Siêu âm giúp bác sĩ phát hiện những dịch ứ đọng trong tử cung

3. Một số lưu ý khi đi siêu âm

Nếu đang có ý định đi siêu âm để biết mình có bị ứ dịch trong tử cung hay không thì bạn nên lưu ý một số vấn đề dưới đây
  • Khi đi siêu âm hãy giữ tâm lý thoải mái, mặc quần áo đơn giản, dễ chịu.
  • Siêu âm khu vực tử cung là khá nhạy cảm, tuy nhiên bạn không nên quá lo lắng, tỏ ra khó chịu mà hãy thả lỏng cơ thể để bác sĩ có thể thực hiện siêu âm hiệu quả.
  • Nếu siêu âm đầu dò phải đi tiểu sạch trước siêu âm, nếu siêu âm qua ngã bụng thì nên nhịn căng tiểu

4. Cách xử lý khi bị ứ dịch trong tử cung

Ứ dịch tử cung là do chất dịch không thoát được ra bên ngoài, do vậy cách điều trị hiệu quả đó là tác động vào tử cung để đẩy các chất dịch ra ngoài. Bạn nên đi siêu âm kiểm tra và điều trị bệnh càng sớm càng tốt, tránh để lâu bệnh nặng hơn.
Với trường hợp nhẹ, bác sĩ thường cho bệnh nhân dùng thuốc co hồi tử cung dạng uống hoặc dạng tiêm để tử cung co bóp và đẩy chất dịch ra ngoài. 
Đối với những trường hợp nặng có dịch nhiều, sau khi siêu âm bác sĩ sẽ tiến hành nong cổ tử cung bằng tay hoặc dụng cụ y tế cùng ống hút để đẩy lấy chất dịch ra ngoài.
Đọc thêm: chọc ối là gì

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2020

Mới phát hiện mang thai có nên siêu âm đầu dò hay không ?

Rất nhiều chị em phụ nữ, nhất là những bạn trẻ khi mới mang thai lần đầu, ngoài việc thích nghi dần với những thay đổi ở cơ thể trong thời kỳ mang thai... thì các mốc khám thai, kỹ thuật khám thai, xét nghiệm trước sinh là điều mà mọi người thường quan tâm hơn cả.

Mới phát hiện mang thai có nên siêu âm đầu dò

Xuân L. (24 tuổi, Nhân viên văn phòng tại Hà Nội) chia sẻ: “Cháu đã chậm được 10 ngày và kiểm tra bằng que thử thai, cho kết quả 2 vạch rõ nét. Giờ cháu muốn thực hiện siêu âm, để chắc chắn bào thai có thực sự khỏe mạnh, an toàn. Tuy nhiên, cháu băn khoăn mới có thai có nên siêu âm đầu dò không? vì cháu nghe nói đây là kỹ thuật siêu âm an toàn, cho kết quả thăm khám chính xác? Nhưng cũng nhiều người lại bảo siêu âm đầu dò là không tốt, và có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Mong bác sỹ sớm giải đáp và cho cháu lời khuyên. Cảm ơn bác sỹ”.

Bác sỹ Phụ sản giải đáp, mới có thai có nên siêu âm đầu dò không?

Là người từng thăm khám, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho hàng ngàn thai phụ, Bác sỹ chuyên khoa I phụ sản - Nguyễn Thị Lan Hương cho biết, siêu âm đầu dò là kỹ thuật siêu âm vùng chậu nhằm chuẩn đoán hình ảnh hiện đại và chuẩn xác nhất dành cho phụ nữ mang thai hiện nay.
- Theo đó, khi thực hiện kỹ thuật này, bác sĩ sẽ sử dụng thiết bị y tế để tiếp xúc trực tiếp vào bộ phận sinh dục, qua âm đạo tạo nên sóng âm tần cao chiếu lên phía trên tử cung để thu hình ảnh từ buồng trứng, tử cung, giúp phát hiện thể trạng thai nhi, mức độ phát triển và các vấn đề tiềm ẩn có thể xảy ra… Cụ thể:
+ Theo dõi thai nhi, xác định vị trí nằm của thai nhi, phát hiện sớm những trường hợp mang thai ngoài tử cung và áp dụng biện pháp xử lý kịp thời.
+ Đối với thai nhi lớn có thể giúp theo dõi chính xác nhịp tim và chẩn đoán sớm nguy cơ sảy thai.
+ Chẩn đoán một số loại bệnh lý hoặc bất thường của mẹ liên quan đến tử cung (độ dày niêm mạc), buồng trứng (vòi trứng, cổ tử cung, buồng trứng u nang, u xơ buồng trứng) và nguyên nhân gây chảy máu bất thường (nếu có).
- Mặt khác, bác sỹ Hương cũng cho biết với phụ nữ mang thai, trong 3 tháng đầu thai kỳ nên thực hiện siêu âm đầu dò để có kết quả theo dõi chính xác nhất, bởi khi đó phôi thai vẫn còn rất nhỏ nên phương pháp này sẽ mang lại kết quả tốt hơn là siêu âm thành bụng. Siêu âm đo độ mờ da gáy vào tuần bao nhiêu của thai kì.
- Đồng thời khi đưa thiết bị đầu dò vào âm đạo chỉ dừng lại ở phía ngoài chứ không tiến sâu vào bên trong gần với tử cung và thai nhi, do đó chị em có thể yên tâm khi áp dụng hình thức siêu âm thai này.

Siêu âm đầu dò và những điều mà thai phụ cần lưu ý!

- Khi thực hiện kỹ thuật siêu âm đầu dò, thai phụ nên hạn chế uống nước và cần đi tiểu cho hết để bàng quang rỗng, giúp kết quả thu được chính xác hơn.
- Mặc dù kết quả siêu âm đầu dò chính xác, nhưng không nhất thiết lần khám thai nào chị em cũng phải thực hiện kỹ thuật này. Khi thai nhi phát triển hơn thì chỉ nên thực hiện kỹ thuật siêu âm thành bụng.
- Đồng thời, các mẹ bầu cần chú ý chọn địa chỉ thăm khám thai uy tín, có bác sĩ thực hiện siêu âm đầu dò cũng như khám thai an toàn, giàu kinh nghiệm và chuyên môn cao để đảm bảo cho kết quả chẩn đoán chính xác nhất.
Từ những phân tích và đánh giá được Bác sỹ Hương đưa ra ở trên, chính là câu trả lời cho thắc mắc của chị em về vấn đề “mới có thai có nên siêu âm đầu dò không?”. Đây thực sự là một hình thức khám thai an toàn, không gây ảnh hưởng xấu tới thai nhi như nhiều người lầm tưởng.
Vậy nên, nếu có băn khoăn về các mốc khám thai quan trọng hay kỹ thuật khám thai an toàn, mời chị em gọi ngay cho bác sỹ của chúng tôi theo Hotline: 18002010 – Website: gentis.com.vn để được giải đáp mọi thắc mắc và đưa ra lời khuyên tốt nhất.
Đọc thêm: chọc ối là gì

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2020

Các thuốc trị ho mẹ bầu không dùng trong khi mang thai

Giai đoạn mang thai hay trong thời gian cho con bú, mẹ luôn lo lắng việc sử dụng thuốc trị ho sẽ ảnh hưởng tới bé yêu. Vậy lúc nào ho mẹ bầu nên dùng thuốc, loại thuốc nào có thể dùng và tuyệt đối không nên sử dụng ở thời điểm này? Cùng sàng lọc trước sinh gentis tìm hiểu ngay trong bài viết sau đây !

Các thuốc trị ho mẹ bầu không dùng khi mang thai

Những nguyên nhân khiến bà bầu bị ho 

Viêm đường hô hấp trên do nhiễm virus, vi khuẩn

Ho là triệu chứng xuất hiện do niêm mạc họng bị kích thích, hay gặp nhất là khi cơ thể nhiễm virus, vi khuẩn khiến họng, thanh quản, phế quản bị viêm. Vào thời điểm giao mùa cuối tháng 3, đầu tháng 4, thời tiết nồm ẩm, nhiệt độ dao động 20-30 độ C là điều kiện lý tưởng cho mầm bệnh sinh sôi, phát triển. Trong khi đó, sự thay đổi về hormone khiến sức đề kháng của các mẹ bầu suy giảm, đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kỳ. Do vậy, các mẹ cần có biện pháp chủ động phòng bệnh để tránh ảnh hưởng thai nhi.

Thay đổi hormone làm tăng sự nhạy cảm của cơ thể mẹ bầu

Trong giai đoạn mang thai, hormon hCG và estrogen tăng cao, cơ thể mẹ bầu trở nên nhạy cảm hơn bao giờ hết, ngay cả với sự thay đổi thời tiết đột ngột chuyển nóng hoặc lạnh, hanh khô hay ẩm ướt. Trong điều kiện này, niêm mạc đường hô hấp như niêm mạc mũi, họng có thể phản ứng lại, xuất hiện hiện tượng viêm, tăng xuất tiết. Và viêm, thương tổn kèm theo đờm, dịch tiết hô hấp chính là nguyên nhân kích thích gây ho.

Trào ngược dạ dày khiến tổn thương niêm mạc họng

Bà bầu ốm nghén, nôn ói hay kích thước tử cung lớn chèn ép gây trào ngược dạ dày cũng là nguyên nhân khiến niêm mạc họng tổn thương, gây ho.
Do vậy, mẹ bầu cần có biện pháp chủ động phòng bệnh, để tránh ảnh hưởng sức khoẻ và thai nhi.

Những thuốc để trị ho mẹ bầu tuyệt đối không được dùng

  • Terpin codein: Là chế phẩm kết hợp giữa Terpin hydrat và Codein.
  • Trong cuốn Dược Thư Quốc Gia Việt Nam (Tài liệu chính thức của Bộ Y tế ban hành nhằm cung cấp thông tin sử dụng thuốc đúng, hợp lý cho thầy thuốc và cán bộ y tế) có viết: “Codein không dùng cho người mang thai”:
  • – Codein chuyển hoá qua gan thành Morphin - chất chuyển hoá có hoạt tính.
  • Ở một số người có cơ địa chuyển hoá Codein thành Morphin nhanh hơn thường có nguy cơ xảy ra các phản ứng có hại do ngộ độc opioid ngay cả ở liều kê đơn thường dùng. Các triệu chứng thường gặp khi ngộ độc bao gồm: Rối loạn ý thức, buồn ngủ, thở nông, co đồng tử, buồn nôn, nôn, táo bón và chán ăn. Trong trường hợp nghiêm trọng, có thể xuất hiện các triệu chứng của suy giảm tuần hoàn và hô hấp, có thể đe dọa tính mạng và rất hiếm khi gây tử vong
  • – Codein cũng chống chỉ định với phụ nữ cho con bú vì thuốc có thể qua sữa mẹ.
  • Dextromethophan: Là thuốc phổ biến giúp giảm do cổ họng hoặc phế quản bị kích thích nhẹ như cảm lạnh thông thường. “Dextromethorphan được coi là an toàn khi dùng cho người mang thai và không có nguy cơ cho bào thai. Nhưng nên thận trọng khi dùng các chế phẩm phối hợp có chứa ethanol và nên tránh dùng trong khi mang thai. Một số tác giả khuyên người mang thai không nên dùng các chế phẩm có dextromethorphan” [1]. Do vậy nếu không có chỉ định bắt buộc của bác sĩ, bà bầu bị ho tuyệt đối không tự ý dùng thuốc này.
  • Acetylcystein: Được chỉ định trong trường hợp ho có đờm bởi thuốc này có tác dụng làm loãng đờm, tiêu đờm. Mặc dù tài liệu nghiên cứu về tính an toàn của Acetylcysstein khan hiếm, nhưng nó được coi là an toàn khi dùng cho phụ nữ mang thai[2]. Tuy nhiên, không chỉ phụ nữ mang thai mà ngay cả người bình thường khi sử dụng Acetylcystein cũng có thể gặp những tác dụng không mong muốn như: buồn nôn, nôn, tim đập nhanh (thường gặp), phát ban, phù, co thắt phế quản kèm phản ứng phản vệ (hiếm gặp). Thực hiện đo độ mờ da gáy ở tuần bao nhiêu của thai kì.
  • Thuốc ức chế bơm proton: Chỉ định trong trường hợp trào ngược dạ dày - thực quản, dẫn đến viêm đường hô hấp trên, gây ho, thường dùng nhất là Omeprazol và Esomeprazol
  • – Chưa có nghiên cứu đầy đủ về sử dụng Omeprazol, Esomeprazol trên phụ nữ mang thai, do vậy chỉ sử dụng khi thật cần thiết. Trong thời gian cho con bú, Esomeprazol có khả năng gây ra các phản ứng có hại ở trẻ bú mẹ, vì vậy phải quyết định ngừng cho con bú hoặc ngừng thuốc, tùy theo tầm quan trọng của việc dùng thuốc đối với người mẹ. [1]
  • Clorpheniramin: Được kê trong đơn điều trị ho do họng và phế quản bị kích ứng: Thuốc này chỉ dùng cho người mang thai khi thật cần thiết. Nếu không có chỉ định của bác sĩ, bà bầu tuyệt đối không được dùng, đặc biệt trong 3 tháng cuối của thai kỳ bởi có thể dẫn đến những phản ứng nghiêm trọng (như cơn động kinh) ở trẻ sơ sinh.
  • Kháng sinh: Chỉ dùng khi ho có nhiễm khuẩn đường hô hấp trên/ dưới.
– Nhóm kháng sinh penicillin (Amoxicilin, Ampicillin...) và nhóm Cephalosprorin (Cephalexin, Cefuroxim, Cefaclor, Cefdinir,…) được coi là an toàn sử dụng khi mang thai. Erythromycin, Azithromycin.
– Ngoài ra, Erythromycin, Azithromycin cũng là hai loại thuốc hay được sử dụng trị ho. Mặc dù không có các bằng chứng về ngộ độc thai và quái thai trong các nghiên cứu trên động vật, nhưng chưa có các nghiên cứu thỏa đáng và được kiểm tra chặt chẽ về việc dùng hai thuốc này cho người mang thai hoặc khi sinh đẻ, vì vậy bà bầu tuyệt đối không sử dụng, trừ khi không còn liệu pháp nào thay thế và phải theo dõi thật cẩn thận.
Hiện nay, tại Việt Nam, tình trạng lạm dụng dẫn tới kháng kháng sinh đã đến mức báo động. Do vậy, việc sử dụng kháng sinh cần được xem xét cẩn thận, bà bầu chỉ dùng kháng sinh khi có kê đơn từ bác sĩ sau khi được xác định có nhiễm khuẩn. Như vậy mới có thể dùng đúng kháng sinh, kê đúng, đủ liều. Sự tuân thủ của bà bầu theo hướng dẫn điều trị của bác sĩ, góp phần quan trọng giảm thiểu kháng kháng sinh. Bà bầu cần làm đầy đủ các chẩn đoán trước sinh để an tâm hơn cho quá trình vượt cạn của mình.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2020

Để sinh con ra được khỏe mạnh mẹ bầu phải làm xét nghiệm này

Người mẹ nào cũng mong muốn con mình chào đời khỏe mạnh nên không thể bỏ qua những xét nghiệm sàng lọc trước sinh cực kỳ quan trọng giúp phát hiện dị tật thai nhi.

Để sinh con ra khỏe mạnh mẹ bầu phải làm xét nghiệm này

Theo trung tâm Chẩn đoán trước sinh bệnh viện Phụ sản Trung ương, dị tật bẩm sinh là một trong những bất thường hay gặp ở thai nhi và trẻ sơ sinh và là một trong những nguyên nhân chính gây nên tử vong và bệnh tật của trẻ trong những năm đầu của cuộc sống. Một số dị tật thai nhi thường gặp là hội chứng Down, Edwards, Patau và dị tật ống thần kinh. Vì thế, việc chẩn đoán dị tật trước sinh, sàng lọc sau sinh có giá trị trong việc phát hiện bệnh lý sớm, sửa chữa những tổn thương cho trẻ trong những ngày đầu đời, kéo dài sự sống cho các bé.

Chẩn đoán trước sinh, làm những xét nghiệm gì?

Siêu âm độ mờ da gáy

Siêu âm độ mờ da gáy chỉ là một xét nghiệm sàng lọc, được dùng để đánh giá nguy cơ bị Down của thai nhi. Nghĩa là, nếu kết quả độ mờ da gáy của thai nhi có “vấn đề”, mẹ bầu sẽ phải tiến hành thêm một vài xét nghiệm khác để biết chính xác liệu bé có bị Down hay không.
Độ mờ da gáy là sự kết tụ chất dịch ở vùng da mặt sau cổ của thai nhi. Tất cả thai nhi đều có kết tụ chất dịch ở vùng cổ, nhưng đối với những trẻ có nguy cơ bị hội chứng Down, số lượng chất dịch này tăng lên đáng kể.
Thông thường, các bác sĩ sẽ tiến hành đo độ mờ da gáy vào khoảng tuần thứ 11 đến tuần thứ 14 của thai kỳ hoặc khi chiều dài đầu mông của bé nằm trong khoảng 45 mm – 85 mm. Nguyên nhân là do trước 11 tuần, thai còn quá nhỏ để cho ra kết quả chính xác về độ mờ da gáy. Ngược lại, sau 14 tuần, những chất dịch dư thừa tích tụ ở vùng gáy sẽ được hấp thụ hết nhờ sự phát triển hệ thống bạch huyết của thai nhi, và sẽ khó có thể phát hiện bất cứ điều gì bất thường ở giai đoạn này nữa.
Siêu âm độ mờ da gáy được thực hiện từ tuần thứ 11 - 14 của thai kỳ. Bác sĩ siêu âm sẽ đo độ dày của da gáy. Độ dày của da gáy bình thường lúc thai được 11 tuần khoảng 2 mm và lúc thai được gần 14 tuần là khoảng 2,9 mm. Độ mờ da gáy trên 4 mm trẻ có nguy cơ bị hội chứng Down hoặc một số bệnh lý khác, nếu da gáy dày nhưng nhiễm sắc thể bình thường (trẻ không bị hội chứng Down), trẻ vẫn có nguy cơ cao bị dị tật tim thai.
Khoảng 75% các trường hợp thai nhi bị hội chứng Down được phát hiện nhờ siêu âm độ mờ da gáy. Khả năng chính xác có thể cao hơn nữa nếu siêu âm kết hợp với các bài kiểm tra khác như xét nghiệm máu (90%), siêu âm đánh giá sự “vắng mặt” của xương mũi thai nhi trong 3 tháng đầu tiên (95%)…
Nếu không chắc chắn, mẹ bầu nên chờ khi thai nhi được khoảng 16 tuần và tiến hành chọc ối để có kết quả chính xác hơn. Ngoài ra, mẹ có thể theo dõi sự phát triển của thai nhi thông qua các siêu âm chi tiết ở tuần thứ 18-20. Các siêu âm này có thể phát hiện “báo động” của các rối loạn nhiễm sắc thể như tay chân ngắn, dị tật tim thai, các vấn đề bất thường ở ruột, thận…

Xét nghiệm Double test và Triple test

Đây là bộ xét nghiệm giúp tầm soát nguy cơ bị hội chứng Down, nguy cơ dị tật ống thần kinh và thai nhi không có não bộ. Phương pháp này được thực hiện bằng xét nghiệm của người mẹ.
Double test là xét nghiệm sàng lọc sử dụng các loại xét nghiệm hóa sinh như định lượng beta-hCG tự do và PAPP-A trong máu của người mẹ. Mẹ cần thực hiện xét nghiệm này vào khoảng tuần thứ 12 của thai kì (tốt nhất là trong khoảng thời gian từ 11 tuần 1 ngày đến 13 tuần 6 ngày).
Việc làm xét nghiệm Double Test kết hợp với siêu âm độ mờ da gáy, tuổi thai… giúp bác sĩ đánh giá được nguy cơ mắc các bệnh như hội chứng Down, Edward hay Patau ở ngay giai đoạn đầu của thai kỳ.
Xét nghiệm này tìm ra nguy cơ của 3 nhóm: Hội chứng Down, Tam nhiễm sắc thể 13 (Trisomy 13) hay Tam nhiễm sắc thể 18 (Trisomy 18).
  • Tam nhiễm sắc thể 18 có thể gây ra dị tật tay chân, tim mạch, tiêu hóa, tiết niệu… Từ đó, dẫn đến nguy cơ thai nhỏ hơn so với tuổi thai, đa ối, trẻ bị bệnh này gọi là hội chứng Edward – cơ thể trẻ yếu, nhiều dị tật.
  • Tam nhiễm sắc thể 13 dẫn tới dị tật ở phần đầu, mặt sứt môi, hở hàm, tiêu hóa, tiết niệu, tim mạch.
  • Triple test thực hiện vào tuần thứ 14 - 22 của thai kỳ, tốt nhất vào tuần thứ 16 đến 18 tuần sẽ cho kết quả đánh giá cao nhất. Xét nghiệm này giúp bác sĩ đánh giá được nguy cơ thai mắc khuyết tật ống thần kinh hoặc thiếu một phần của não. Ngoài ra, hội chứng Down, Edward và các bất thường về di truyền khác cũng có thể được phát hiện qua Triple Test.
  • Xét nghiệm này rất đơn giản, không ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé. Nếu xét nghiệm tiến hành đúng lúc, kết hợp cả xét nghiệm máu và siêu âm, thì độ chính xác cho các hội chứng Down và dị tật ống thần kinh đạt 90 - 96%.

Xét nghiệm huyết thanh

Phương pháp này thông qua việc xét nghiệm máu để phát hiện những nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể và dị tật ống thần kinh ở thai nhi. Thời gian làm xét nghiệm tốt nhất từ tuần thứ 15 - 20, để đạt kết quả chính xác là tuần 16 - 18 trong thai kỳ. Phương pháp này cũng cho phép phát hiện những bất thường về chức năng các bộ phận của cơ thể thai nhi.

Những ai nên làm xét nghiệm chẩn đoán trước sinh

  • Phụ nữ mang thai trên 35 tuổi
  • Những thai phụ có tiền sử gia đình có người bị dị tật bẩm sinh
  • Thai phụ có tiền sử sinh non, sẩy thai, thai lưu chưa rõ nguyên nhân
  • Thai phụ bị nhiễm bệnh 3 tháng đầu của thai kỳ
  • Những cặp vợ chồng tiếp xúc với tia xạ, hóa chất độc hại...

Mang thai ở tuổi 30 cùng những điều mẹ bầu cần biết

Nhiều người cho rằng tuổi 30 là thời điểm làm mẹ tốt nhất, bởi lúc này công việc, thu nhập, các mối quan hệ đã đi vào ổn định. Nhưng trên thực tế làm mẹ ở những độ tuổi khác nhau sẽ có lợi thế và hạn chế khác nhau. Xét nghiệm trước sinh gentis sẽ chia sẻ chi tiết hơn trong bài viết dưới đây nhé !

Mang thai ở tuổi 30 và những điều mẹ bầu cần biết

1. Lợi thế khi mang thai ở tuổi 30

Sinh con đầu lòng sau 30 tuổi là một trải nghiệm tuyệt vời. Người mẹ lúc này vẫn còn tràn đầy năng lượng và sức sống để có thể chăm lo thật tốt cho con mình. Dù mỗi cá nhân có sự khác biệt, nhưng nhìn chung ở tuổi 30 người phụ nữ đã có nhiều trải nghiệm về cuộc sống hơn, chín chắn hơn, hiểu rõ về bản thân hơn so với chính họ khi mới 20 tuổi.
Bên cạnh đó ở tuổi 30 không chỉ người phụ nữ mà cả người chồng của họ cũng sẵn sàng làm cha hơn so với tuổi 20. Hai vợ chồng đã trải qua một thời gian nhất định, đã hiểu nhau hơn, do đó việc chung tay xây dựng tổ ấm cũng như quyết định trở thành cha mẹ sẽ nghiêm túc và chín chắn hơn.
Ở nhiều khía cạnh, áp lực tài chính và kĩ năng quản lí tài chính ở tuổi 30 đã khác nhiều so với thời điểm khi mới 20 tuổi. Sự nghiệp đã dần ổn định, thu nhập của người phụ nữ đã khá hơn, đã có được một số tích lũy nhất định, cũng như khả năng quản lí tài chính cũng tốt hơn so với những năm tuổi 20.
Vì những lí do trên, mang thai và làm mẹ ở tuổi 30 sẽ dễ dàng hơn, bớt áp lực hơn so với khi người phụ nữ đang ở tuổi 20.

2. Hạn chế khi mang thai ở tuổi 30

Bên cạnh những lợi thế, mang thai ở tuổi 30 cũng có nhiều điểm phải suy nghĩ. Đầu tiên chính là khả năng mang thai. Theo thời gian, độ tuổi mang thai của phụ nữ càng cao, khả năng mang thai càng giảm, và có sự khác biệt rõ rệt giữa những phụ nữ vừa bước qua tuổi 30 với những phụ nữ gần tới 40 tuổi.
Những năm đầu của tuổi 30, khả năng mang thai chỉ suy giảm chút ít so với những năm cuối của tuổi 20, và khả năng sảy thai hay đứa trẻ mắc các rối loạn di truyền (như hội chứng Down) cũng chỉ tăng rất nhẹ.
Khi người phụ nữ chạm tới tuổi 35, mọi thứ sẽ thay đổi rất nhanh. Khả năng mang thai giảm đi rõ rệt, nguy cơ sảy thai, sinh non, rối loạn di truyền và dị tật thai nhi tăng lên nhanh hơn. Do đó tuổi 35 là cột mốc mà người phụ nữ nên lưu ý. Nếu có ý định mang thai ở nửa sau của những năm 30 tuổi, người phụ nữ nên tiến hành sàng lọc trước sinh (như xét nghiệm DNA vô bào, chọc dịch ối, sinh thiết gai nhau,... và các sàng lọc khác).
Tỉ lệ sảy thai, biến chứng thai sản cũng như nguy cơ mang thai ngoài tử cung đều tăng lên sau tuổi 30, đặc biệt là sau tuổi 35.

Tỉ lệ sảy thai tăng lên sau tuổi 30

Ở tuổi 20, tỉ lệ phải sinh mổ khoảng 30%, nhưng sẽ tăng lên mức 43% ở tuổi 35. Nguyên nhân được các chuyên gia chỉ ra là khi tuổi tác tăng lên thì nguy cơ xảy ra các vấn đề thai sản cũng tăng theo (suy thai, chuyển dạ kéo dài,...).
Khả năng mang thai của mỗi người là khác nhau, nhưng nhìn chung, 35 tuổi là cột mốc cần lưu tâm, đặc biệt là với những phụ nữ muốn mang thai không chỉ một lần. Lời khuyên được đưa ra là nếu muốn mang thai ở độ tuổi 30, người phụ nữ nên suy nghĩ và quyết định sớm, đừng chờ đợi quá lâu. độ mờ da gáy là gì ?

3. Khả năng mang thai thành công ở tuổi 30

Dù sau tuổi 29 tới 35 tuổi, có một sự suy giảm rõ rệt ở khả năng mang thai, nhưng đa số phụ nữ ở tuổi 35 không gặp vấn đề gì. Tuy nhiên nếu đợi đến 38 hay 39 tuổi, câu chuyện sẽ trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều.
Nhìn chung, với mỗi chu kì rụng trứng ở độ tuổi 30 người phụ nữ có tỉ lệ mang thai là 15%, và trong một năm, tỉ lệ có thai sẽ ở mức xung quanh 75%. Lưu ý rằng càng về sau, khả năng mang thai càng giảm, và sẽ chỉ còn khoảng 65% khi người phụ nữ ở những năm cuối cùng của tuổi 30.
Tỉ lệ sảy thai tăng chậm ở những năm đầu của tuổi 30, sau đó tăng nhanh ở những năm giữa và cuối tuổi 30 (18% ở tuổi 35 và tăng lên 34% ở đầu năm 40 tuổi).
Trong khoảng thời gian từ 35 tới 39 tuổi có một điểm đặc biệt, đó là người phụ nữ dễ có cơ hội mang đa thai tự nhiên (thường là thai đôi). Trong mỗi chu kì rụng trứng, thông thường sẽ chỉ có một trứng chín. Nhưng khi tuổi tác tăng lên, nồng độ nội tiết tố kích thích nang trứng (follicle stimulating hormone - FSH) tăng lên, dẫn tới khả năng sẽ có nhiều hơn một trứng chín và rụng (thường là hai trứng). Do đó tuy phụ nữ lớn tuổi khó có thai hơn phụ nữ trẻ tuổi, nhưng lại có cơ hội mang đa thai nhiều hơn.

4. Phải làm gì nếu muốn có thai?


Người bệnh nên đi khám bác sĩ chuyên khoa nếu thấy khó thụ thai
Để chuẩn bị tốt nhất cho một thai kì an toàn và sinh con khỏe mạnh, hãy lưu tâm những điều sau:
Nếu ở độ tuổi dưới 35, thường xuyên quan hệ tình dục (khoảng 2 - 3 lần mỗi tuần), không sử dụng bất kì biện pháp tránh thai nào trong vòng một năm mà vẫn chưa mang thai, hãy đi thăm khám bác sĩ chuyên khoa để tìm nguyên nhân và có phương pháp can thiệp.
Nếu đã từ 35 tuổi trở lên, thường xuyên quan hệ tình dục, không sử dụng bất kì biện pháp tránh thai nào trong sáu tháng mà không có thai, hoặc tiền sử có bất kì vấn đề gì khiến mang thai khó khăn (mất kinh, kinh nguyệt không đều, mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, đau khung chậu,...) hãy tới thăm khám bác sĩ chuyên khoa càng sớm càng tốt.

5. Nếu muốn trì hoãn mang thai thì cần phải làm gì?

Nếu người phụ nữ chưa thực sự sẵn sàng, muốn trì hoãn việc có con, có thể tham khảo phương pháp đông lạnh trứng. Dù khả năng mang thai suy giảm theo tuổi tác, nhưng dưới sự trợ giúp của các biện pháp hỗ trợ sinh sản hiện đại, trứng “trẻ” hơn sẽ mang lại tỉ lệ thành công cao hơn. Một số phụ nữ tiến hành đông lạnh trứng của bản thân để dự phòng tình huống khó mang thai sau này.
Đọc thêm: Bảng giá xét nghiệm sàng lọc trước sinh nipt illumina

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2020

Làm xét nghiệm ADN huyết thống trước sinh được không ?

Xét nghiệm ADN quan hệ cha con trước khi sinh có thể xác định một người đàn ông có phải là bố thai nhi trước khi được sinh ra. Y khoa hiện đại ngày càng phát triển, ngoài việc siêu âm thai chính xác thì xét nghiệm ADN huyết thống cũng được thực hiện sớm. Nếu muốn thực hiện, ngay từ tuần thứ 14 của thai kỳ, mẹ có thể yêu cầu bác sĩ hỗ trợ mong muốn này. Hiện nay, việc xét nghiệm ADN huyết thống trước sinh thường được thực hiện theo một trong hai phương pháp: Phương pháp chọc ối và xét nghiệm trước sinh.

Có thể làm xét nghiệm ADN huyết thống trước sinh

1. Khi nào sản phụ có thể thực hiện xét nghiệm ADN huyết thống?

Xét nghiệm quan hệ cha con trước khi sinh là một chủ đề nhạy cảm vì các vấn đề đạo đức bao gồm các rủi ro của xét nghiệm xâm lấn. Nhiều bác sĩ đã từ chối thực hiện xét nghiệm quan hệ cha con trước khi sinh, đặc biệt nếu xác nhận danh tính của cha đứa bé là lý do duy nhất để thực hiện xét nghiệm.
Nếu xét nghiệm quan hệ cha con trước khi sinh được thực hiện và kết quả xét nghiệm là không như mong muốn thì người phụ nữ có thể không muốn tiếp tục mang thai. Nếu phụ nữ đang mang thai và muốn cân nhắc về việc thực hiện xét nghiệm quan hệ cha con trước khi sinh, hãy nói chuyện với bác sĩ hoặc nữ hộ sinh trước khi thực hiện. Họ có thể giúp sản phụ xem xét các vấn đề liên quan, cũng như tư vấn về những rủi ro cho mẹ và thai nhi.
Thời gian thực hiện xét nghiệm ADN huyết thống trong khi mang thai tùy thuộc vào loại xét nghiệm mà sản phụ chọn, nhưng nói chung có thể được thực hiện sớm nhất vào tuần thứ 8 mà không có bất kỳ rủi ro nào đối với mẹ hoặc em bé.
Sản phụ nên chọn loại xét nghiệm ADN trước khi sinh không xâm lấn để đảm bảo không có nguy cơ sảy thai hoặc bất kỳ rủi ro nào khác cho bản thân hoặc em bé đang phát triển. Các phương pháp xâm lấn đòi hỏi thai nhi phải phát triển hơn trước khi có thể được thực hiện.
Xét nghiệm ADN huyết thống trong khi mang thai có thể được thực hiện sớm nhất vào tuần thứ 8

2. Các loại xét nghiệm ADN huyết thống trước sinh

Có ba loại xét nghiệm ADN có thể được thực hiện trong khi đang mang thai; Xét nghiệm ADN trước sinh không xâm lấn NIPT, chọc ối và xét nghiệm sinh thiết gai nhau hay sinh thiết gai nhau (CVS - Chorionic Villus Sampling). Kiểm tra thai nhi để phát hiện Hội chứng Down cũng có thể được thực hiện bằng cả ba phương pháp.
  • Xét nghiệm ADN trước sinh không xâm lấn NIPT: ADN được thu thập từ người mẹ và người cha cần xác định huyết thống. Sau đó ADN này sẽ được phân tích và so sánh với ADN của con được tìm thấy trong máu của mẹ.
  • Chọc ối: Đây là xét nghiệm ADN xâm lấn được thực hiện vào khoảng tuần 14 đến tuần thứ 20. Thai phụ sẽ được chọc ối dưới hướng dẫn của siêu âm, nước ối sẽ được rút ra qua thành bụng bằng 1 cây kim rất nhỏ, sau đó mẫu nước ối này sẽ được thực hiện các xét nghiệm ADN.
  • Thông thường lượng nước ối cần lấy là 15- 30 ml. Cơ thể bạn sẽ tái tạo lại lượng nước ối được lấy ra và bé sẽ không bị thiếu ối sau khi thực hiện xét nghiệm. Một số sản phụ sẽ bị đau bụng nhẹ sau khi chọc ối, bác sĩ sẽ đưa thuốc uống và thai phụ nên nghỉ ngơi vào ngày chọc ối. Ngày hôm sau tình trạng đau bụng sẽ giảm.Tai biến và nguy cơ quan trọng nhất của chọc ối là có thể gây sẩy thai, vỡ ối, nhiễm trùng. Theo các nghiên cứu gần đây, nguy cơ sảy thai khi chọc ối là 1/500 (có nghĩa là cứ 500 sản phụ chọc ối sẽ có 1 người bị sẩy thai).
  • Xét nghiệm sinh thiết gai nhau hay sinh thiết gai nhau: Xét nghiệm này được thực hiện từ tuần thứ 10 đến tuần thứ 13. Sinh thiết gai nhau là lấy 1 ít mô bánh nhau từ tử cung. Mẫu gai nhau sẽ được lấy bằng kim hoặc ống thông qua đường bụng. Trong thủ thuật này, sản phụ sẽ được gây tê để giảm đau và bớt căng thẳng. Sau thủ thuật sản phụ có thể bị xuất huyết âm đạo nhẹ. Nguy cơ sẩy thai của thủ thuật khoảng 1/500. đo độ mờ da gáy (do mo da gay) ở tuần thai bao nhiêu ?

3. Sự chính xác của xét nghiệm ADN huyết thống trước sinh


Hầu hết các kết quả từ kết quả NIPT là chính xác 99,9%
Kết quả xét nghiệm ADN trước sinh không xâm lấn khác nhau, tùy thuộc vào mẫu chất lượng mẫu để xét nghiệm ADN huyết thống.
Hầu hết các kết quả từ kết quả NIPT là chính xác 99,9%. Độ chính xác của các xét nghiệm ADN chọc ối là chính xác khoảng 99% để kiểm tra thai nhi mắc Hội chứng Down và trisomy 18 và 98% cho các khuyết tật ống thần kinh. Xét nghiệm sinh thiết gai nhau hay sinh thiết gai nhau để phát hiện các rối loạn di truyền và bất thường với nhiễm sắc thể và có tỷ lệ chính xác cao từ 98 đến 99%.
Các chuyên gia cho rằng để xác định huyết thống của người con trước khi sinh, chọc dò nước ối để xét nghiệm ADN khả quan hơn. Bản chất của chọc ối là làm xuất huyết giữa mẹ và con và yếu tố duy nhất có thể gây nguy hiểm cho cả thai phụ và thai nhi là người mẹ mang nhóm máu Rh. Nếu người mẹ mang nhóm máu này dễ bị sảy thai, thì không nên chọc ối.

4. Thời gian có kết xét nghiệm ADN huyết thống trước sinh

Vì có 3 loại xét nghiệm ADN trước khi sinh nên thời gian để nhận được kết quả rất khác nhau với mỗi xét nghiệm. Thông thường có thể mất khoảng 3 đến 12 tuần để xem kết quả.
Đối với xét nghiệm chọc ối, có thể mất từ ​​ba ngày đến ba tuần để xem kết quả. Nếu chỉ kiểm tra một loại bất thường về ADN hoặc huyết thống thì kết quả thường sẽ nhanh hơn so với khi sản phụ kiểm tra nhiều vấn đề khác nhau. Có khả năng kết quả có thể mất nhiều thời gian hơn do đó sản phụ không phải quá lo lắng. Đôi khi có thể mất một thời gian cho các tế bào phát triển để có được kết quả chính xác.
Kết quả của xét nghiệm sinh thiết gai nhau hay sinh thiết gai nhau có thể có ngay hoặc trong vòng năm đến 10 ngày. Nếu sản phụ muốn kiểm tra một rối loạn cụ thể thì có thể chờ đợi kết quả lâu hơn một chút.
Bên cạnh nhu cầu xét nghiệm gene trước sinh để xác định quan hệ huyết thống, nhiều người muốn sử dụng dịch vụ xét nghiệm gene trước sinh để xác định nguy cơ bào thai có mắc các bệnh di truyền để kịp thời chữa trị. Nhiều bệnh viện hiện nay đang áp dụng phương pháp này để xác định nhiều bệnh liên quan đến di truyền nhằm kịp thời chữa trị, ngay cả khi em bé đã chào đời.
Đọc thêm: chọc ối là gì

Trứng thụ tinh bao lâu thì sẽ biết có thai ?

Tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai thành công? Chúng ta đều biết rằng quá trình thụ thai sẽ diễn ra thành công khi tinh trùng gặp trứng. Nhưng bởi giai đoạn này diễn ra nhanh chóng nên nhiều chị em còn băn khoăn, thắc mắc. Có thể nói, quá trình này không hề đơn giản và thuận lợi. Bởi tinh trùng phải trải qua một chặng đường gian nan thì mới có thể tới đích. Cùng xét nghiệm trước sinh gentis tìm hiểu ngay nào !

Trứng thụ tinh bao lâu thì biết có thai ?

Hành trình tinh trùng đến với trứng diễn ra thế nào?

Trước khi tìm hiểu tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai thành công? Hãy cùng tìm hiểu hành trình tinh trùng đến với trứng diễn ra thế nào? Quá trình diễn ra là sau khi phóng tinh, sẽ có từ 300 – 500 triệu tinh trùng vào trong âm đạo. 
Cùng với đó các tinh trùng này sẽ bắt đầu “hành trình” tiến về phía trứng bằng cách bơi nhanh qua âm đạo đi tới tử cung và vào ống dẫn trứng. Trong quá trình đó, có rất nhiều tinh binh sẽ bị “chết yểu” do gặp phải những “chướng ngại vật” khó khăn. Và thời gian tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai nói là khá nhanh nhưng lại là một quá trình không hề dễ dàng.
Đầu tiên phải kể đến là độ axit ở âm đạo là một môi trường “khắc nghiệt”, nhất là với những tinh trùng Y. Tiếp theo là tới màng nhầy ở cổ tử cung. Bình thường màng nhầy này sẽ đóng kín cổ tử cung, nhưng sẽ giãn rộng ra vào ngày rụng trứng. Tuy giãn ra nhưng nó cũng khiến cho “quân số” của tinh trùng giảm đi nhiều.

Tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai

Tiếp theo, những “chàng” tinh trùng còn lại sẽ phải vượt qua một quãng đường 20cm từ cổ tử cung tới ống dẫn trứng. Thông thường với tốc độ 2-3mm/phút với thời gian ngắn nhất để gặp được trứng là 45 phút. Tuy nhiên, cũng có những tinh trùng phải mất 12 giờ mới tới được ống dẫn trứng. Ở đây, nếu chưa gặp trứng, chúng có thể sống tối đa 3-5 ngày.

Khi nào trứng gặp được tinh trùng?

Tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai? Khi nào trứng gặp được tinh trùng là điều cặp đôi quan tâm. Bạn biết không? Để biết tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai, cần phải có sự cố gắng của cả tinh trùng và trứng. Nếu như tinh trùng tiến đến với trứng là cả một quá trình gian nan thì trứng cũng có một quá trình không hề dễ dàng gì.
Về phía trứng, sau khi được phóng ra từ một trong hai buồng trứng, nó sẽ nhanh chóng di chuyển tới đoạn một phần ba ống dẫn trứng từ phía bên ngoài để gặp tinh trùng. Còn trong trường hợp chưa gặp được, trứng có thể tồn tại ở đây từ 12 – 24 giờ đồng hồ.
Và tới khi trứng gặp được tinh trùng, thì giữa các “chàng” tinh trùng sẽ xảy ra một “cuộc chiến” mạnh mẽ. Tinh trùng thi nhau tiết một chất làm mềm vỏ trứng để chui được vào bên trong noãn. 
Và sau khi có một tinh trùng đầu tiên chui được vào, trứng sẽ nhanh chóng tiết ra một chất làm cứng lại vỏ để ngăn không cho các tinh trùng khác chui lọt vào. Trong 12 giờ tiếp theo, trứng và tinh trùng sẽ diễn ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử.
Vậy nên, quá trình thụ tinh có thể diễn ra nhanh nhất khi tinh trùng gặp được trứng luôn tại đoạn một phần ba của vòi trứng. Thời gian nhanh nhất là khoảng 45 phút và lâu nhất là 12 tiếng. Còn trong trường hợp, tinh trùng không gặp được trứng thì có thể sẽ phải đợi thời gian từ 2 – 3 ngày khi trứng rụng. Các phương pháp chẩn đoán trước sinh mới nhất ?

Vậy tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai?

Tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai? Như các bạn đã biết! Quá trình thụ thai được tính từ khi trứng thụ tinh tới khi phôi thai làm tổ được ở trong tử cung. 
Sau khi thụ tinh khoảng từ 3 – 4 ngày, trứng bắt đầu di chuyển ra khỏi ống dẫn trứng để đi vào tử cung, tìm nơi làm tổ. 
Và trong quá trình di chuyển, hợp tử này sẽ bắt đầu phân bào với 3 lần: lần 1 là thành 2 tế bào mầm, lần 2 sẽ thành thành 4 tế bào mầm, còn lần 3 thành 8 tế bào mầm trong đó có 4 tế bào mầm to, 4 tế bào mầm nhỏ. Và 4 tế bào mầm to sau này sẽ phát triển thành lá thai còn 4 tế bào mầm nhỏ hình thành lên lá nuôi.
Sau đó, tế bào mầm nhỏ bắt đầu phát triển nhanh chóng, bao bọc nhanh lấy tế bào mầm to, tạo thành phôi dâu rồi từ đó hình thành lên một buồng chứa dịch đẩy các tế bào khác sang một bên, gọi là phôi nang. 
Khi tới được buồng tử cung, phôi nang đã bắt đầu hình thành xong. Thời gian tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai có thể mất đến vài ngày nhưng cũng có khi mất tới một tuần.\

Tinh trùng gặp trứng bao lâu thì thụ thai?

Khi tới được tử cung, phôi nang sẽ nhanh chóng tìm một chỗ thích hợp để bám vào thành tử cung bằng cách chân giả của lá nuôi bám vào niêm mạc. Từ đó, dần dần hình thành lên nhau thai. 
Còn lá thai là sẽ chính tiền đề để tạo thành các cơ quan trong cơ thể thai nhi. Thông thường, quá trình làm tổ này thường kéo dài từ thời gian 7 – 10 ngày. Tức là tính từ lúc thụ tinh, quá trình thụ thai sẽ diễn ra trong khoảng khoảng 13 – 14 ngày.
Điều này có nghĩa là từ thời điểm quan hệ tới khi thai nhi đã làm tổ trong tử cung, sẽ mất khoảng thời gian từ 14 – 17 ngày. Trong khoảng thời gian này, có tới 1/3 trường hợp thụ thai không thành công, và dù là trứng đã được thụ tinh. 
Nguyên nhân chính là do trong khi phân bào, hợp tử này gặp phải bất thường về nhiễm sắc thể, khiến cho phôi thai bị vỡ ra trước khi kịp làm tổ.