Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2020

Định nghĩa "Đẻ chủ động" khi mang thai là gì ?

Gây chuyển dạ hoặc khởi phát chuyển dạ chủ động là sự tác động của thầy thuốc làm cho cuộc chuyển dạ bắt đầu không phải cuộc chuyển dạ tự nhiên để chấm dứt thai kỳ.
Chuyển dạ là quá trình giúp tống thai và nhau ra khỏi tử cung và bắt đầu một cuộc sống mới bên ngoài tử cung của bé. Đôi khi, chuyển dạ không tự khởi phát được, trong trường hợp này các bác sĩ phải sử dụng thuốc giúp khởi động quá trình chuyển dạ để người mẹ có thể sinh ngả âm đạo. Quá trình này được gọi là gây chuyển dạ chủ động.

Chuyển dạ chủ động được thực hiện ở những trường hợp nào?

- Ối đã vỡ nhưng chưa chuyển dạ, màng ối vỡ nhưng chưa có cơn co tử cung hoặc cơn co yếu, cạn ối.
- Thai quá ngày sinh.
- Bệnh lý của mẹ như: tăng huyết áp, tiền sản giật, ung thư cần đình chỉ thai nghén, bệnh tim nhưng chưa suy tim mà ối bị vỡ non, bệnh chất tạo keo.
- Nhiễm khuẩn ối.
- Tình trạng siêu âm dị tật thai nhi bị nặng có chỉ định đình chỉ thai nghén.
- Thai chết lưu trong tử cung.
- Thai chậm phát triển trong tử cung

Những trường hợp chống chỉ định với các biện pháp gây chuyển dạ chủ động

- Test không đả kích và đả kích có biểu hiện bệnh lý.
- Bất tương xứng thai - khung chậu.
- Ngôi bất thường không có chỉ định đẻ đường dưới.
- Rau tiền đạo.
- Sẹo mổ cũ trên tử cung.
- Sa dây rốn (thai sống).
- Herpes sinh dục.
- Các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng của mẹ như suy tim, tiền sản giật nặng, sản giật... có thể chỉ định phẫu thuật lấy thai. Nếu các mẹ mang thai lần đầu nhớ tham khảo thêm các xét nghiệm sàng lọc trước sinh sớm.

Các phương pháp gây chuyển dạ chủ động

Có nhiều cách để khởi phát chuyển dạ. Sau đây là 5 phương pháp gây chuyển dạ chủ động có thể linh động cho từng trường hợp sản phụ cụ thể.
  • Bóc tách màng ối.
- Khám âm đạo, đưa ngón tay vào giữa màng ối và cổ tử cung, đầu ngón tay phải áp sát cổ tử cung để tách màng ối ra khỏi thành cổ tử cung và đoạn dưới tử cung.
  • Bấm ối.
- Bấm ối chỉ thực hiện được khi cổ tử cung đã mở, bằng cách dùng 1 kim chọc dò dài hoặc 1 cành Kocher để gây thủng màng ối, sau đó dùng ngón tay xé rộng màng ối. Có thể bấm ối đơn thuần hoặc kết hợp với truyền oxytocin.
- Đánh giá số lượng và màu sắc dịch ối.
- Theo dõi nhịp tim thai trước và ngay sau khi bấm ối.
  • Bóng Foley.
- Đưa một thông Foley qua lỗ trong cổ tử cung. Bơm 10 ml huyết thanh mặn 0,9% làm phồng bóng cao su tạo áp lực giúp cho cổ tử cung xóa và mở. Khi cổ tử cung mở được 3 cm, thông sẽ tự tuột ra ngoài và cuộc chuyển dạ được khởi phát. Có thể kết hợp với truyền tĩnh mạch oxytocin nếu cần.
Prostaglandin (chỉ được tiến hành tại cơ sở có phẫu thuật.)
- Prostaglandin giúp cổ tử cung chín muồi và mềm.
- Thuốc thường được dùng hiện nay là misoprostol.
- Đặt vào túi cùng sau âm đạo với liều 50 mcg, cứ 3 giờ/lần, tối đa là 6 liều hoặc 25 mcg cứ 3 giờ/lần, tối đa 8 liều hoặc bằng đường uống 50 mcg cứ 4 giờ/lần.
Bấm ối kết hợp với truyền oxytocin (chỉ được tiến hành tại cơ sở có phẫu thuật.)
- Cho 5 đv oxytocin pha vào 500 ml dung dịch glucose 5 %, truyền nhỏ giọt tĩnh mạch chậm, liều lượng lúc đầu 5 - 8 giọt/phút cho đến khi xuất hiện cơn co tử cung.
- Bấm ối, chọc ối xé rộng màng ối.
- Theo dõi và điều chỉnh số giọt để đạt được số cơn co phù hợp với sự tiến triển của chuyển dạ.
- Ngoài ra, tùy tình hình của cuộc đẻ chỉ huy nếu cơn co mau cho oxytocin chảy chậm hoặc có thể phối hợp với những thuốc giảm co có tác dụng làm mềm cổ tử cung.
- Cuộc đẻ chỉ huy được coi là có kết quả khi cơn co đều đặn, tim thai tốt, ngôi lọt và cổ tử cung mở hết, có thể cho đẻ đường dưới và lấy ra một thai nhi khỏe mạnh.

Những tai biến và cách xử trí

Một trong những nguy cơ của khởi phát chuyển dạ là thuốc không hiệu quả. Nếu sau khi dùng thuốc mà bạn vẫn không chuyển dạ, bạn có thể phải sinh mổ. Ngược lại, thuốc có thể làm cho cơn co tử cung của bạn quá mạnh. Nếu điều này xảy ra, bác sĩ sẽ ngưng thuốc và đợi một thời gian, hoặc mổ lấy thai. Nếu bạn được chỉ định khởi phát chuyển dạ do các bệnh lý nội khoa, có thể còn có những nguy cơ khác nữa.
- Nếu thai suy, phải ngừng đẻ chỉ huy, phẫu thuật để cứu thai.
- Nếu cơn co tử cung quá thưa, nhẹ, tăng số giọt truyền. Nếu quá mạnh, mau thì giảm lưu lượng truyền và có thể sử dụng giảm co tử cung.
- Nếu cuộc đẻ chỉ huy kéo dài quá 6 giờ mà không tiến triển tốt thì phải phẫu thuật lấy thai.
- Tai biến có thể gặp là thai suy hoặc tử vong do theo dõi không tốt, can thiệp muộn.
Có thể vỡ tử cung do truyền oxytocin gây cơn co mau, mạnh: phải phẫu thuật để cứu mẹ và con

Sản phụ cần phối hợp với bác sĩ như thế nào?

Đôi lúc quá trình khởi phát chuyển dạ cần từ 2-3 ngày, nhưng thường thì cần ít thời gian hơn. Nó có thể mất nhiều thời gian hơn nếu bạn được khởi phát chuyển dạ sớm hoặc đây là con đầu lòng của bạn. Đừng ăn quá nhiều trước khi đến bệnh viện. Cần nhớ rằng các thuốc trong quá trình khởi phát chuyển dạ có thể gây nên những cơn co rất mạnh và có thể làm rối loạn dạ dày. Báo với bác sĩ nếu bạn cảm thấy quá đau. Thường thì quá trình khởi phát chuyển dạ diễn ra êm đẹp và bạn có thể sinh ngả âm đạo.

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2020

Vai trò của vitamin đối với người đang có thai

Khi phụ nữ mang thai thì việc đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cũng như cung cấp vitamin đầy đủ sẽ giúp cho sức khỏe thai phụ ổn định, thai nhi phát triển khỏe mạnh và phòng tránh các biến chứng không cần thiết trong quá trình mang thai do thiếu vitamin gây ra. Mẹ bầu cần phải bổ sung đầy đủ vitamin ngay từ khi mang thai 3 tháng đầu.

Vai trò của vitamin đối với người mang thai

Sắt

Sắt đóng vai trò chính trong việc tạo hồng cầu, giúp cơ thể trẻ phát triển khỏe mạnh và là khoáng chất quan trọng cho sự phát triển của bánh rau.
Sắt có nhiều trong các loại thực phẩm như các loại thịt đỏ, rau và ngũ cốc…

Canxi

Chất khoáng này rất cần cho sự phát triển hệ xương của thai nhi. Việc thiếu canxi trong thời kỳ mang thai có thể gây ra bệnh loãng xương và giảm độ chắc khỏe của khung xương.
Canxi có nhiều trong các sản phẩm từ sữa như phomat, sữa chua, đậu tương, bông cải xanh…

Nguồn ảnh: Internet.

Vitamin D

Vitamin D giúp cho cơ thể hấp thu các khoáng chất như canxi, photpho vào cơ thể vì thế khi thiếu vitamin D dễ gây các hậu quả như trẻ còi xương ngay trong bụng mẹ hay trẻ đẻ ra bình thường nhưng thóp liền lâu.
Phụ nữ có thai cũng nên được bổ sung vitamin D bằng cách nên có thời gian hoạt động ngoài trời vào buổi sáng càng nhiều càng tốt hoặc nên ăn những thức ăn có nhiều vitamin D.

Vitamin nhóm B

  • Vitamin B6 (Puridoxine)
Vitamin B6 giúp phát triển hệ thần kinh và trí não của thai nhi. Trong một số trường hợp B6 còn giúp giảm cảm giác nghén vào buổi sáng ở phụ nữ mang thai.
B6 có nhiều trong chuối, dưa hấu, đậu xanh và thịt ức gà…
  • Vitamin B1 (Thiamin)
Vitamin B1 rất cần thiết cho sự phát triển của hệ thần kinh trung ương của thai nhi, thiếu vitamin làm tăng nguy cơ mắc chứng tê phù có thể ảnh hưởng tới tim và phổi của trẻ.
Các sản phẩm bao gồm các loại ngũ cốc, mầm lúa mỳ và trứng.
  • Vitamin B2
Vitamin B2 tham gia quá trình tạo máu nên thiếu vitamin B2 sẽ gây thiếu máu nhược sắc, nếu thiếu kèm theo việc thiếu hụt cả acid folic, sẽ gây thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, và nếu thiếu thêm cả chất đạm,cơ thể sẽ mắc bệnh thiếu máu hồng cầu lớn do dinh dưỡng. Xem thêm : Chi phí xét nghiệm máu khi mang thai.
Vitamin B2 có nhiều trong thức ăn động vật, sữa, các loại rau đậu, bia, các hạt ngũ cốc toàn phần…

Nguồn ảnh: Internet.
  • Vitamin B9 (acid folic)
Acid folic có vai trì hoàn thiện việc đóng kín ống thần kinh của phôi thai, nếu thiếu acide folic trong những tuần đầu của phôi thai, sẽ gây nên các khuyết tật về ống thần kinh như não úng thuỷ, thoát vị não tuỷ…, nhẹ nhất là gặp chứng nứt đốt sống, gai đôi cột sống. Ngoài ra acide folic còn giúp cho các mô của cơ thể thai nhi lớn nhanh, thiếu acide folic trong thai kỳ trẻ có nguy cơ sinh non, sảy thai, hoặc trẻ sinh ra nhẹ cân.
Những thực phẩm có hàm lượng acide folic cao như các loại rau xanh đậm, trái cây có màu đỏ, vàng, ngũ cốc nguyên hạt…

Vitamin E

Vitamin E giúp phát triển hệ cơ và các tế bào máu đỏ. Thiếu vitamin E liên quan đến việc trẻ sinh ra nhẹ cân, trong khi thừa vitamin E có thể gây tử vong cho trẻ sơ sinh. Vì vậy chỉ bổ sung vitamin E bằng thuốc theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
Vitamin E có nhiều trong dầu thực vật, các loại hạt và ngũ cốc.

Protein

Protein đặc biệt cần trong giai đoạn 6 tháng cuối của thai kỳ giúp cho sự phát triển của các tế bào trong cơ thể trẻ. Các sản phẩm giàu protein bao gồm thịt, cá, trứng, phomat, đạu phụ…

Kẽm

Kẽm rất cần thiết cho sự phát triển của tế bào thai nhi đồng thời thúc đẩy quá trình sản sinh ra enzyme như insulin trong cơ thể thai phụ.
Kẽm có nhiều trong thực phẩm như các loại thịt đỏ, thịt gia cầm, các loại đậu, ngũ cốc và các sản phẩm tử sữa.

Vitamin C

Vai trò lớn trong việc làm tăng sức đề kháng của cơ thể và hỗ trợ hấp thụ sắt từ bữa ăn, góp phần chống thiếu máu do thiếu sắt. Vitamin C có nhiều trong các quả chín, rau xanh, nếu thai phụ ăn uống đầy đủ thì không cần phải bổ sung vitamin C từ thuốc.

Nguồn ảh: Internet.

Vitamin A

Vai trò của vitamin A: có vai trò đặc biệt trong hoạt động thị giác và tham gia làm giảm nhiễm khuẩn trong cơ thể, thiếu vitamin A sẽ làm tăng tỉ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn và tử vong, gây khô mắt, có thể dẫn đến mù lòa vĩnh viễn.
Vitamin A có nhiều trong sữa, gan, trứng… vitamin A từ thực vật có trong các loại rau có màu xanh đậm nhất là rau ngót, rau muống, rau dền, các loại củ quả có màu vàng, màu đỏ như cà rốt, đu đủ, xoài, bí đỏ…

Iod

Phụ nữ mang thai thiếu iod có thể bị sẩy thai, thai chết lưu, sinh non. Thiếu iod có thể bị đần độn với tổn thương não vĩnh viễn, trẻ sơ sinh có thể bị các khuyết tật bẩm sinh như liệt tay, chân, ngọng, điếc, câm, mắt lác…Siêu âm dị tật thai nhi sẽ sớm tìm ra những bất thường trong thai kỳ .
Iod có nhiều trong các loại hải sản, rong biển…
Vitamin rất quan trọng với thai nhi và thai phụ trong thai kỳ, dù thiếu một loại vitamin nào cũng có thể gây ra những hậu quả nặng nề cho sức khỏe của mẹ và thai, thậm chí có thể gây ra các dị tật bẩm sinh ảnh hưởng tới cuộc sống của trẻ sau này.

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2020

Vài điều tế nhị mọi mẹ bầu đều ngại hỏi bác sỹ

Khi đi khám thai có rất nhiều điều chị em phụ nữ muốn hỏi các bác sĩ nhưng không dám nói, đặc biệt là về 'chuyện ấy' khi đang mang thai. Bài viết sau gentis (trung tâm sàng lọc trước sinh không xâm lấn) sẽ cùng các mẹ tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này  .

Những điều tế nhị mọi bà bầu đều ngại hỏi bác sỹ

Quan hệ tình dục khi mang bầu không hề nguy hiểm

Phụ nữ mang bầu thường không muốn quan hệ tình dục vì họ nghĩ rằng hành động này có thể gây hại cho em bé trong tử cung nhưng theo các chuyên gia “chuyện ấy” hoàn toàn không hề gây nguy hiểm cho em bé nếu mẹ có thai kỳ khỏe mạnh bình thường.
Em bé ở trong bụng mẹ được bao bọc trong bọc ối kỹ càng, vì vậy mẹ hoàn toàn có thể yên tâm làm chuyện ấy nếu được bác sĩ cho phép.

Mang thai có thể ảnh hưởng đến ham muốn tình dục của nữ giới

Mang thai và chuyện ấy ở mỗi mẹ bầu là khác nhau nhưng sự thay đổi nội tiết tố trong cơ thể khi mang bầu có thể khiến một số phụ nữ có ham muốn thấp.
Tuy nhiên vấn đề này chỉ xảy ra khi mang thai 3 tháng đầu. Từ quý thứ 2, khi mẹ đã hết buồn nôn, mệt mỏi, ốm nghén… thì chuyện ấy cũng dễ dàng hơn và ham muốn của hầu hết chị em cũng sẽ trở lại, thậm chí còn tràn đầy năng lượng.

Vợ mang bầu cũng ảnh hưởng đến ham muốn tình dục của chồng

Với tâm lý lo lắng và không muốn làm tổn thương vợ bầu và em bé nên khi người phụ nữ mang bầu sẽ có thể khiến chồng không còn ham muốn làm chuyện ấy. Nhưng một số người đàn ông khác lại thấy ham muốn mạnh mẽ hơn khi cơ thể phụ nữ hấp dẫn hơn lúc bầu bí như ngực lớn hơn, da dẻ hồng hào, quyến rũ.

Yêu khi mang bầu nên chọn vị trí thoải mái

Những vị trí “yêu” bình thường đôi khi có thể khiến mẹ bầu cảm thấy khó chịu do bụng bầu ngày một lớn. Lúc này, các cặp đôi nên áp dụng những vị trí như nam giới nằm dưới, úp thìa hoặc nam giới đứng và thâm nhập từ phía sau sẽ giúp chị em cảm thấy dễ chịu hơn.

Một số điều cần lưu ý khi quan hệ tình dục ở phụ nữ mang thai

Cần đi khám sản - phụ khoa để biết không có những bất thường về thai, về phần phụ, cổ tử cung, về rau thai. Trong trường hợp có những dị tật về tử cung, ví dụ như hở eo tử cung mở, việc quan hệ tình dục dễ dẫn đến những sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, vi nấm, virut) và tinh dịch vào sẽ làm ảnh hưởng xấu cho thai nhi. Bởi vì trong tinh dịch của đối tác có chất prostaglandin làm tử cung co bóp mạnh, vì vậy, trong những tháng cuối thai kỳ, người chồng nên sử dụng bao cao su để tránh kích thích bé ra sớm. Trong trường hợp này, tốt hơn là tránh quan hệ tình dục khi mang bầu.
Trong 3 tháng đầu và 3 tháng giữa, việc xuất tinh trong hay ngoài hoặc sử dụng bao cao su hay không tùy thuộc vào sở thích và thói quen của mỗi cặp vợ chồng, bởi co bóp của tử cung trong giai đoạn này khi sinh hoạt tình dục hoàn toàn là cơn co bóp sinh lý, khác hoàn toàn co bóp chuyển dạ.
Cần lưu ý, một số trường hợp nên hạn chế quan hệ tình dục khi mang bầu là có tiền sử sinh non, sẩy thai hoặc có một số bất thường như rau bám thấp, rau tiền đạo.
Một số trường hợp sau khi quan hệ, bà bầu thấy bị ra máu, cần đi khám ngay để được xác định nguyên nhân, trên cơ sở đó sẽ được tư vấn của bác sĩ chuyên khoa. Việc quan hệ tình dục như thế nào cho đúng khi mang bầu nên tham khảo bác sĩ sản khoa.
Xem thêm các xét nghiệm khi mang thai mẹ bầu nên làm !!

Nguyên nhân mẹ bầu bị đau lưng và hông trong 3 tháng cuối

Mang thai mang lại cho người phụ nữ rất nhiều niềm vui nhưng cũng đem lại cho thai phụ rất nhiều khó chịu, đặc biệt là những tháng cuối của thai kì, khi thai càng to thì mức độ khó chịu cũng có thể tăng lên như mệt mỏi do thiếu ngủ và sức nặng của thai nhi, đi tiểu nhiều, xuống máu chân, rạn da, táo bón, khó thở… và đau lưng và mỏi hông là dấu hiệu đem lại sự khó chịu nhiều nhất cho thai phụ ở mọi lúc mọi nơi không giống như khi mang thai 3 tháng đầu.

Nguyên nhân mẹ bầu bị đau lưng và hông 3 tháng cuối

- Khi mang thai, cơ thể thai phụ sản sinh ra nhiều loại hormon, dưới tác dụng của hormon, dây chằng xương chậu lỏng rồi mềm ra, làm cho khớp xương của xương cùng, liên hợp xương mu lỏng đi, kết cấu ở phần lưng cũng lỏng. Hiện tượng biến đổi dây chằng xương chậu này ở thai phụ có thể trợ giúp khi chuyển dạ thuận lợi hơn. Nhưng, nếu dây chằng xương chậu quá lỏng, có thể làm cho khớp xương đau nhức, sự tách rời của liên hợp xương mu có thể làm cho thai phụ đi đứng khó khăn.
- Trong giai đoạn cuối thai kì, tử cung lớn ra, trọng lượng tăng lên (lúc này toàn bộ trọng lượng của tử cung khoảng 6000g), trọng tâm cơ thể của thai phụ di chuyển về phía trước. Để giữ cơ thể thăng bằng, đầu và vai thai phụ di chuyển về phía sau, tăng độ cong phần lưng, tổ chức lưng ở vào trạng thái kích ứng dễ làm cho lưng bị đau nhức.
- Khi mang thai, lưng phải chịu trọng lượng của em bé trong bụng nên bị thay đổi về hình dạng cột sống. Thai càng lớn thì cột sống càng bị tăng sức nặng nhiều hơn và gây nên những cơn đau.

Cách khắc phục

- Không ăn nhiều nhưng ăn đủ: giảm bớt việc tăng khối lượng không cần thiết.
- Thường xuyên luyện tập các các bài thể dục nhẹ (đi bộ, thể dục tay không, yoga, bơi lội…
Nguồn ảnh: Internet.
- Thư giãn nghỉ ngơi thích hợp, không mang, xách vật nặng, ăn ngủ điều độ, đúng giấc. Không nên làm các việc nặng, chọn các việc làm nhẹ nhàng, phù hợp. Khi nâng một vật gì đó, bạn cần chú ý tư thế: từ từ ngồi xổm xuống, hai chân rộng ra tạo thế vững chắc. Với những vật nặng, bạn đừng cố nâng mà hãy tìm sự trợ giúp của người khác. Đặc biệt không được uốn vòng eo hay va đập mạnh vào lưng. Tham khảo : Hội chứng edwards là gì ?
- Hãy xoa bóp vùng lưng một cách nhẹ nhàng và thường xuyên sau một ngày mệt mỏi. Nên đến các chuyên gia tư vấn về xoa bóp, về xương, cột sống và về châm cứu để có những lời khuyên phù hợp
- Đến bác sĩ ngay để theo dõi đúng lúc nếu cơn đau lưng lan rộng khắp vùng lưng, mông, đùi, cẳng chân, và đôi khi đến cả bàn chân, hoặc đau kéo dài.
- Sử dụng đai đỡ bụng dưới và quần đặc biệt cho thai phụ cũng giúp bạn hạn chế đau lưng khi mang thai 3 tháng cuối.
- Khi ngủ, sử dụng thêm đệm hoặc gối đỡ bụng và lưng. Nếu bạn nằm ngủ nghiêng, chèn thêm gối vào giữa hai chân để tạo cân bằng cho hông. Đầu tư thêm gối chuyên dụng cho bà bầu không phải là quá xa xỉ, nhất là khi đệm nằm của bạn không khiến bạn thoải mái.
Đau lưng và hông là một dấu hiệu khó chịu khi mang thai, đặc biệt là những tháng cuối của thai kì. Nguyên nhân thường là do nội tiết và sự phát triển thai nhi càng ngày càng lớn gây lên. Việc ăn uống đầy đủ, nghỉ ngơi cũng như tham gia vào một số bài tập hay massage nhẹ nhàng sẽ là cách giúp cải thiện tình trạng này một cách đáng kể. Các mẹ có thể tham khảo thêm các xét nghiệm cần làm khi mang thai tại đây : nipt.com.vn

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

Những tâm lý của bầu sẽ ảnh hưởng đến thai nhi

Nghiên cứu của các nhà tâm lý học và phân tâm học đều cho rằng chất lượng mối quan hệ gắn bó sớm giữa mẹ và con trong thời kỳ mang thai đặc biệt là khi mang thai 3 tháng đầu và trong những năm tháng đầu đời có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc hình thành nhân cách của con trẻ. Những xung đột tâm lý mà sản phụ gặp phải trong suốt kỳ mang thai đến sau khi sinh là nguồn gốc của những rối nhiễu tâm lý xuất hiện sớm ở trẻ, thậm chí có thể gây khó khăn cho trẻ khi dậy thì.

Những tâm lý của mẹ bầu sẽ ảnh hưởng đến thai nhi

  • Sự thay đổi về cảm xúc khi mang thai
Trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ: Thai phụ được chuẩn bị tốt về tâm lý trước khi mang thai: Thai phụ mong muốn đậu thai và cảm thấy vui mừng khi chuẩn bị thực hiện thiên chức làm mẹ thì sẽ khá thuận lợi trong việc giúp sản phụ vượt qua giai đoạn mệt mỏi, ốm nghén...
Trong thời gian ba tháng giữa của thai kỳ: Thai phụ dần ổn định hơn về tâm lý. Họ cảm nhận được sự tồn tại của trẻ. Đối với những thai phụ mong có con, nỗi sợ sẩy thai cũng dần bị đẩy lùi. Ở một số thai phụ khác không muốn có con cũng dần từ bỏ ý định làm sẩy thai. Lúc này người mẹ chuyển dần mối quan tâm sang thai nhi đang lớn lên từng ngày với những cử động ngày một mạnh và nhiều hơn.
Trong ba tháng cuối của thai kỳ: Thai phụ bắt đầu chuẩn bị dần cho việc sinh nở của mình và rất dễ nhạy cảm trước những câu chuyện sinh nở của các bà mẹ khác. Họ càng bất an hơn nếu kinh tế gia đình không đủ đáp ứng cho việc sinh nở và nuôi con sau này.

Ảnh hưởng của tâm lý người mẹ lên thai nhi và trẻ nhỏ

Khi còn trong bụng mẹ, các cơ quan của bé được hình thành và dần hoàn thiện về cấu trúc, chức năng. Dù tính cách mỗi người phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giáo dục của gia đình, xã hội, nhưng xét về hoạt động tinh thần, tính cách của bé cũng dần được định hướng dựa vào sự hình thành của các trung tâm thần kinh. Sự thay đổi tâm trạng của mẹ sẽ dẫn tới môi trường bên trong thay đổi, kéo theo sự thay đổi trong cơ thể bé.
Một số nghiên cứu cho thấy, nếu thai phụ hay ưu phiền, lo âu sẽ làm thay đổi hành vi, nhận thức và tính cách của trẻ khi chào đời. Do đó nếu mẹ thường căng thẳng, con có thể gặp nguy cơ mắc các bệnh như tăng động, tự kỷ, chậm nói và giảm khả năng học tập. Những bà mẹ có đời sống tinh thần lý tưởng, có thái độ lạc quan về sinh đẻ, thời kỳ có thai sống bình thản và thoải mái thì lúc sinh đẻ sẽ thuận lợi, đứa trẻ khỏe mạnh. Hội chứng down khi mang thai và những điều mẹ bầu cần biết.

Tâm lý thoải mái giúp thai phát triển tốt

Mẹ mang thai bị stress dễ làm thiếu oxy máu của thai nhi, ảnh hưởng tới các thành tô hóa học của máu và dinh dưỡng thai nhi có thể gây ra các dị tật ở thai nhi
Ảnh hưởng tâm lý thai nhi: Mẹ mang thai bị stress dễ có tâm lý tức giận, oán ghét cái thai, từ đó tình cảm mẹ con đã có những rạn nứt. Nhiều nhà tâm lý học cho rằng quan hệ tình cảm mẹ con thời kỳ đầu sẽ ảnh hưởng tới cá tính và hành vi cũng như sự hoàn chỉnh tâm lý của đứa trẻ.

Nguy cơ tăng động

Đánh giá hành vi của trẻ được sinh ra từ các mẹ có độ căng thẳng liên tục, người ta phát hiện thấy các trẻ này tăng động quá mức, gần giống với chứng tăng động giảm chú ý. Người ta cho rằng khi mẹ căng thẳng, lượng hooc môn cortisol và dolpamine trong máu sẽ gia tăng. Các chất này đi qua nhau thai làm nồng độ cortisol và dopamine ở những trẻ này tăng cao hơn so với trẻ bình thường khác. Đây là nguyên nhân dẫn đến rối loạn hành vi của trẻ vì hai hooc môn này làm tăng tính kích động, sự bồn chồn và giảm tập trung.

Nguy cơ tự kỷ

Nếu thai phụ bị rối loạn tâm lý ở tuần thứ 32 thì trẻ sinh ra có nguy cơ bị rối loạn hành vi cao gấp hai lần, kéo dài đến 4 – 5 tuổi. Với thai phụ rối loạn tâm lý ở tuần thứ 38 – 40, tỉ lệ nguy cơ rối loạn hành vi của đứa trẻ cũng cao gấp hai lần nhưng kéo dài đến 7 – 8 tuổi.
Ở mẹ bị trầm cảm, các hooc môn tâm lý của mẹ tác động vào hệ thống tuyến nội tiết của con. Từ đó hệ thống này bị giảm chức năng nên dẫn đến thiếu hụt một số hooc môn, khiến trẻ sinh có nguy cơ mắc bệnh tự kỷ.

Chậm nói

Nghiên cứu trên những trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, các nhà khoa học thấy có một mối liên quan với mẹ khi mang thai. Ước tính có khoảng 15% trẻ chậm phát triển ngôn ngữ là do mẹ bị rối loạn tâm trạng trong thai kỳ.
Người ta cho rằng, sự trầm cảm, lo âu của mẹ làm giảm các hoạt động như ăn uống, nghỉ ngơi. Điều này gây thiếu hụt các chất cần thiết cho phát triển thần kinh của thai nhi khiến bé chậm nói.
Trẻ sinh ra có nguy cơ tự kỷ nếu khi mang thai tâm trạng không tốt

Giảm khả năng học tập

Một nghiên cứu về khả năng học tập và trí nhớ của trẻ cho thấy, những mẹ có rối loạn lo âu trong thời kỳ đầu của thai kỳ ảnh hưởng tới chỉ số tập trung, chú ý ở trẻ. Khi đo vùng hồi hải mã trên não của các em, người ta thấy kích thước vùng này nhỏ hơn so với trẻ cò mẹ bình thường. Vùng hồi hải mã giúp khả năng nhớ và học tập tốt. Nếu kích thước vùng này giảm, khả năng tập trung trí nhớ cũng giảm.
Cảm xúc và tâm lý trong thời kỳ thai nghén có nhiều biến đổi theo từng giai đoạn mang thai. Lịch sử bản thân, thái độ của người thân, chất lượng mối quan hệ giữa vợ và chồng, thái độ của bản thân đối với việc có con có tác động rất lớn đến sự ổn định tâm lý của thai phụ. Vì vậy các bà mẹ khi mang thai hãy luôn giữ cho mình một tinh thần thoải mái nhất, nghỉ ngơi điều độ và giải trí thường xuyên, lạc quan yêu đời để có thể sinh ra được những đứa con khỏe mạnh, thông minh. Mẹ bầu nên nhớ thường xuyên thăm khám và đặc biệt là làm xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn để giúp tìm ra những bất thường thai kỳ sớm nhất.

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2020

Hiện tượng chảy máu cam khi đang mang thai

Nếu như trong khi mang thai 3 tháng đầu thai kỳ mẹ bị triệu chứng ốm nghén khi mang thai hành hạ thì khi bước sang 3 tháng giữa, tình trạng chảy máu cam lại khiến mẹ cảm thấy lo sợ hơn về sức khỏe của bản thân. Tuy nhiên, thực tế có khoảng 20% bà bầu bị chảy máu cam trong thai kỳ và thường là trong tam cá nguyệt thứ 2 và thứ 3.

Hiện tượng chảy máu cam khi mang thai

Chảy máu cam khi mang thai có phải dấu hiệu nguy hiểm?
Nếu như trong 3 tháng đầu thai kỳ mẹ bị triệu chứng ốm nghén khi mang thai hành hạ thì khi bước sang 3 tháng giữa, tình trạng chảy máu cam lại khiến mẹ cảm thấy lo sợ hơn về sức khỏe của bản thân. Tuy nhiên, thực tế có khoảng 20% bà bầu bị chảy máu cam trong thai kỳ và thường là trong tam cá nguyệt thứ 2 và thứ 3.
Triệu chứng bà bầu bị chảy máu cam là hiện tượng khá phổ biến và thường không gây nguy hiểm gì đến sức khỏe của mẹ và thai nhi, tuy nhiên cũng có những trường hợp số ít việc chảy máu cam lại là những biểu hiện bệnh lý cần quan tâm và phòng ngừa sớm để không xảy ra nguy hiểm cho mẹ và bé nhất là trong quá trình "vượt cạn".
Nguyên nhân chảy máu cam khi mang thai
- Sự thay đổi hormone trong suốt thai kỳ khiến cho các mạch máu bên trong mũi nở rộng, làm chúng dễ dàng bị phá vỡ khiến cho bà bầu bị chảy máu cam.
- Sức đề kháng của phụ nữ mang thai giảm sút rất nhiều so với trước khi mang thai, nên khi thời tiết thay đổi thất thường dễ khiến mẹ bị cảm lạnh, viêm xoang, viêm mũi dị ứng… và đây cũng chính là nguyên nhân khiến mẹ bị chảy máu cam.
- Ngoài ra, những hành động mạnh chẳng hạn như ngoáy mũi mạnh cũng là nguyên nhân khiến bà bầu bị chảy máu cam. Mẹ nên tìm hiểu thêm các xét nghiệm máu khi mang thai.

Những trường hợp chảy máu cam cần đến bệnh viện thăm khám

Hiện tượng chảy máu cam một cách đột ngột trong thai kỳ khiến cho nhiều chị em vô cùng lo lắng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia thì đa số hiện tượng chảy máu cam là vô hại đối với sức khỏe của mẹ và sự phát triển của thai nhi. Dù vậy, trong một số ít trường hợp còn lại thì bà bầu chảy máu cam nhiều sẽ làm tăng tỷ lệ xuất huyết sau sinh. Vì thế, nếu đã đến gần ngày dự sinh rồi mà mẹ vẫn còn tiếp tục chảy máu cam thì có lẽ đây là dấu hiệu đáng báo động và có thể bác sĩ sẽ chỉ định mẹ sinh mổ để phòng ngừa tình trạng xấu nhất.
Những trường hợp chảy máu mũi gây nguy hiểm mẹ bầu nên đến bệnh viện ngay lập tức, nếu xuất hiện những trường hợp sau:
– Không ngừng chảy máu cam sau khi đã giữ nguyên áp lực trong 30 phút.
– Bạn bị chảy máu nhiều từ phần sau của mũi, và máu trào ngược ra miệng.
– Tình trạng chảy máu cam diễn đi tái lại nhiều lần, cơ thể sản phụ mệt mỏi, da xanh niêm mạc nhợt.
Trong hầu hết các trường hợp, bác sĩ sẽ sử dụng băng vệ sinh mũi, hoặc gói bơm hơi, hoặc một miếng gạc đặc biệt để chèn vào mũi bạn. Những dụng cụ này gây áp lực lên mạch máu và ngăn chảy máu. Việc chèn mũi này có thể cần giữ trong một khoảng thời gian, nên bạn có thể được chuyển vào khoa Tai Mũi Họng để theo dõi. Ngoài ra, các bác sĩ có thể làm lành các mạch máu vỡ bằng bạc nitrat hoặc sử dụng dòng điện trong một số trường hợp.
Đặc biệt, bạn nên đến khám bác sĩ nếu thường xuyên bị chảy máu cam khi mang thai. Bác sĩ có thể xem xét chỉ định cho bạn kiểm tra các xét nghiệm cận lâm sàng khác như xét nghiệm máu, nội soi mũi họng...để tìm nguyên nhân và điều trị theo phác đồ.

Xử lý chảy máu cam khi mang thai

Vì đây là hiện tượng khá phổ biến trong thai kỳ và cũng không gây nguy hiểm nhiều nên cách xử lý cũng khá đơn giản:
- Khi bị chảy máu mũi, thai phụ ngồi xuống, ngửa đầu ra phía sau, dùng ngón tay ấn xuống cánh mũi, giữ một lúc. Có thể dùng khăn mặt lạnh hoặc chườm đá lên mũi để làm mạch máu cục bộ co vào, có thể nhanh chóng ngừng chảy máu. Chảy máu mũi cần tránh thần kinh căng thẳng, nếu không áp làm áp lực máu tăng cao sẽ gây chảy máu nhiều hơn.
- Nếu chảy máu xuống họng, phải nhổ ra, không được nuốt vào để tránh làm kích thích niêm mạc dạ dày gây nôn. Nếu bị chảy máu cam, bạn không nên nằm ngửa; bởi vì, chất dịch mũi có lẫn máu sẽ xâm nhập ngược lại vào cổ họng và khiến bạn bị sặc. Tốt nhất, bạn nên dùng tay kẹp, kéo nhẹ sống mũi lên phía trên mắt; đồng thời, bạn hơi ngửa cổ và hướng mặt về phía trước.

Nên làm gì để tránh chảy máu cam khi mang thai?

– Tránh để mũi quá khô, nhất là trong thời tiết lạnh hoặc nằm trong phòng điều hòa.
– Nên nhẹ nhàng với mũi của mình. Hành động “thô bạo” như ngoáy mũi có thể là nguyên nhân dẫn đến chảy máu cam.
– Bổ sung đầy đủ nước, khoáng chất để ngăn chặn màng tiết chất nhầy và các mô khác bị mất nước.
– Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng nhất là các loại trái cây giàu vitamin C như cam,chanh, bưởi... để tăng tính bền thành mạch, hạn chế hiệu quả tình trạng chảy máu cam.

Kết luận

Chảy máu cam khi mang thai phần lớn là dấu hiệu bình thường trong thai kỳ, nên mẹ bầu khi gặp tình trạng này không nên căng thẳng, lo lắng quá mức. Một số trường hợp đặc biệt có nguy cơ gây ra những biến chứng nguy hiểm như kể ở trên, mẹ bầu nên sắp xếp thời gian đi khám bác sỹ sớm để được kiểm tra và tư vấn điều trị. 
Đọc thêm : Siêu âm dị tật thai nhi bao nhiêu tiền ?

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

Thai nhi bài tiết trong bụng mẹ bầu như thế nào ?

Thai nhi được nuôi dưỡng và phát triển trong buồng tử cung của người mẹ, thai nhi sẽ nằm trong túi ối trong suốt thời gian mẹ mang thai. Như vậy, thai nhi trong bụng mẹ luôn hoạt động và phát triển hệ tuần hoàn, tiêu hóa, tiết niệu trong suốt thai kỳ. Vậy thai nhi bài tiết như thế nào trong buồng tử cung? cùng nipt gentis tìm hiểu ngay !!

Thai nhi bài tiết trong bụng mẹ thế nào ?

1. Thai nhi đi tiểu trong bụng mẹ

Theo các chuyên gia nghiên cứu, phôi thai bắt đầu tiểu tiện ngay từ khi được 2 tháng tuổi, thời điểm em bé bắt đầu biết nuốt nước ối sau đó thải ra chính nguồn nước ối đã nuốt của mình. Một cách dễ hiểu hơn, thai nhi sẽ uống nước tiểu của mình trong suốt 7 tháng trong bụng mẹ.
Khi trẻ phát triển hệ thống tuần hoàn, tiết niệu, thận bắt đầu xử lý lưu lượng máu của thai nhi và tạo ra nước tiểu, sau đó nước tiểu được đưa vào dịch ối xung quanh. Nước tiểu của thai nhi là một nguồn nước ối lớn trong vài tháng đầu của thai kỳ.
Dù vậy, nước tiểu của thai nhi không giống như phân, nước tiểu của bé trong môi trường nước ối là vô trùng, không chứa vi khuẩn nên không làm thai nhi mắc bệnh. Chính vì giữ vai trò quan trọng đối với trẻ, nước ối luôn được tái tạo và đổi mới mỗi 3 giờ để đảm bảo môi trường luôn chuyển hóa và vệ sinh cho thai nhi phát triển tốt nhất.

2. Lượng nước tiểu của thai nhi

Vào tuần thứ 31 – 34 của thai kỳ, mỗi ngày trẻ sẽ bài tiết nước tiểu khoảng 500ml vào trong nước ối. Nước ối là một môi trường có nhiều dinh dưỡng với khả năng tái tạo và trao đổi, giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển và sự sống của bé trong tử cung. Như vậy bé trong bụng mẹ luôn hoạt động và phát triển hệ tiêu hóa, tuần hoàn, tiết niệu. đọc thêm: các xét nghiệm chọc ối khi mang thai.

3. Thai nhi bài tiết như thế nào trong bụng mẹ?


Thai nhi bài tiết trong bụng mẹ
Phân của các bé chỉ bắt đầu tích lũy dần từ thời điểm bước qua tuần 24 của thai kỳ. Đó là kết quả của quá trình nuốt nước ối thành thục, sự thoái hóa của các tế bào và hoạt động của hệ tiêu hóa. Phân su sẽ được tích tụ dần trong ruột của thai nhưng chỉ sau khi ra đời, trong lần đi vệ sinh lần đầu tiên của trẻ, lượng phân su này mới bắt đầu được thải ra ngoài qua đường hậu môn và có màu đen đậm hoặc xanh đen. Như vậy, theo lý thuyết thai nhi chỉ đi tiểu tiện nhưng hoàn toàn không đi đại tiện trong bụng mẹ.
Tuy nhiên, có một số nhỏ khoảng 12% thai nhi không thể giữ phân su trong ruột cho đến ngày chào đời mà sẽ thải phân su ra nước ối. Hoặc khi bé đã quá ngày dự sinh, hệ tiêu hóa trưởng thành thì cũng có thể đào thải phân su ngay trong bụng mẹ. Lúc này, nước ối sẽ có màu xanh hoặc hơi vàng. Dù vậy điều này phần lớn không hề gây hại cho bé khi còn nằm trong bụng mẹ, không gây nguy hiểm gì cho sức khỏe của bé. Tuy nhiên nếu chưa đến ngày dự sinh mà bé đã thải phân su trong bụng mẹ thì có thể liên quan đến các vấn đề như: mẹ chuyển dạ khó, dây rốn bị chèn ép, thiếu oxy, nhiễm trùng...

4. Hội chứng hít ối phân su là gì?

Có một trường hợp cần lưu ý đó là hội chứng hít ối phân su. Trong suốt 9 tháng 10 ngày nằm trong bụng mẹ, phổi của bé luôn đầy nước ối. Nếu phổi bé có phân su, nó sẽ đi qua khí quản. Khi chuyển dạ, nếu bé bị thiếu oxy trong thời gian dài, bé sẽ khó thở và hít phải phân su.
Khi hít phải phân su có thể chặn đường thở, gây tắc nghẽn đường thở, đồng thời giảm lượng oxy. Đối với những trẻ hít phân su, trẻ dễ bị rối loạn trao đổi khí ở phổi và suy hô hấp. Các kích ứng hóa học của phân su còn có thể gây viêm phổi, nhiễm trùng và bất hoạt surfactant (chất hiện diện trên bề mặt trong lòng các phế nang, giúp các phế nang giãn nở và thông khí tốt).

5. Cách phòng ngừa hội chứng hít ối phân su

Thai phụ khi nhận thấy bất kỳ dấu hiệu lạ hoặc thấy nước ối có màu xanh sẫm cần đến bệnh viện ngay hoặc đi khám thai thường xuyên để biết được tình trạng của mình và có cách xử trí khi sinh. Ngoài ra, thai nhi già tháng cũng làm tăng nguy cơ thai nhi ị ra phân su trước và trong khi sinh, vì vậy hãy theo dõi chặt chẽ thai kỳ kể từ tuần 37 trở đi.
Nếu các mẹ có những thắc mắc về thai kỳ vui lòng chia sẻ ngay với trung tâm sàng lọc dị tật thai nhi gentis , hotline: 18002010