Thứ Tư, 6 tháng 3, 2019

Bật mí súng ADN – cách thức mới chống tội phạm

Công ty Selectamark giới thiệu hệ thống Đánh dấu tốc độ cao bằng ADN, người sử dụng sẽ dùng khẩu súng bắn ra những viên đạn có mã ADN vào đối tượng cần đánh dấu từ khoảng cách lên đến 40m, sau đó sử dụng đèn UV phát hiện ra đối tượng.>> Xét nghiệm ADN hành chính

Khám phá súng ADN – cách thức mới chống tội phạm

Thoạt nhìn sẽ dễ dàng lầm tưởng đây là một khẩu súng nước công nghệ cao hay một sản phẩm từ phim khoa học viễn tưởng hơn là một thiết bị phòng chống tội phạm. Hệ thống đánh dấu mới này gồm một khẩu súng và đạn ADN sẽ giúp cảnh sát dễ dàng hơn trong việc theo dấu các nghi can, thậm chí ngay cả những tên tội phạm hung hãn nhất. Khác với dùi cui điện hay súng bắn đạn thật, súng ADN không gây sát thương hay vô hiệu hóa nghi phạm, thay vào đó với thiết bị này cảnh sát có thể đứng từ một cự ly an toàn mà vẫn có thể nhận dạng và tiến hành bắt giữ nghi can nhiều ngày thậm chí nhiều tuần sau khi xảy ra vụ việc.
Được phát triển bởi cty Selectamark có trụ sở tại Kent cho mục đích sử dụng trong lực lượng cảnh sát và quân đội, hệ thống Đánh dấu tốc độ cao bằng ADN sẽ bắn những viên đạn tròn nhỏ màu xanh lá cây có chứa các chất không màu đến các đối tượng nghi vấn từ khoảng cách tối đa 40m. Mỗi viên đạn chỉ nhẹ hơn 1gram và giống như đạn súng sơn, bên trong chứa một đoạn mã ADN duy nhất có thể lưu lại trên người đối tượng nhiều tuần lễ. Hệ thống gồm 2 loại súng ngắn và súng trường, có thể bắn 20 phát trong một lần.
Ông Andrew Knights từ Selectamark cho biết: “Khi tiếp xúc với đối tượng, viên đạn sẽ lưu lại một đoạn mã ADN nhân tạo được tạo ra từ hệ thống SelectaDNA, cơ quan chức năng sẽ dựa vào đó để loại trừ hay cáo buộc nghi can trong từng tình huống cụ thể, hoặc xa nữa là tiến hành bắt giam và khởi tố vụ án. Hợp chất trong viên đạn nhỏ đến mức có thể len lỏi qua từng thớ vải để in lên da và quần áo của kẻ tình nghi.”
Súng sử dụng những viên đạn tròn nhỏ có chứa mã ADN duy nhất. Ảnh: PR Newswire
Giải pháp này sẽ rất hiệu quả khi cảnh sát đối mặt với các cuộc bạo loạn, một đám đông hỗn loạn hay khi không thể bám theo kịp nghi phạm khi truy đuổi. Sau đó, cảnh sát có thể bắt giữ đúng người mang đoạn mã ADN đã đánh dấu khi được chiếu dưới ánh đèn UV.
Sản phẩm đã được giới thiệu tại bang Neveda hồi đầu năm 2013 và thu được số lượng phản hồi đáng kể. Jason Brown của Selectamark cho biết: “Chúng tôi đã mất hơn một năm để phát triển hệ thống này. Mặc dù chỉ công bố được vài ngày, nhưng sự quan tâm đối với sản phẩm là rất lớn. Hiện nay chúng tôi đang trong quá trình thương thảo với một số lực lượng an ninh của Vương quốc Anh, và một số đơn vị khác trên thế giới. Nó sẽ là một trong số các dụng cụ trang bị cho cảnh sát chống bạo động, và chúng tôi tin rằng với màu cam nổi bật, nó sẽ gây sự chú ý và khiến người ta e dè việc bị đánh dấu, từ đó đám đông sẽ tự giải tán.”
Khẩu súng được trang bị một ống ngắm laser và khả năng ghi hình ảnh, âm thanh để làm chứng cứ. Mỗi cảnh sát sẽ được cung cấp một dãy mã ADN, khi được kết hợp với hình ảnh và âm thanh sẽ tạo nên chứng cứ rõ ràng và thuyết phục. Cảnh sát sẽ tiến hành phân tích ADN để xác định sự trùng khớp.>> https://phantichadn.com/
Nhà sản xuất thậm chí đã huấn luyện chó đánh hơi vật liệu chứa mã ADN, giúp cảnh sát phát hiện tức thời những nghi can đã bị đánh dấu ngay trong đám đông.
Năm ngoái, đồn cảnh sát Nelson thuộc hạt Lancashire đã ghi nhận tỉ lệ tội phạm giảm 100% sau khi họ giới thiệu súng ADN tới 600 hộ dân.
Súng ADN có thể được sử dụng trong trấn áp các cuộc bạo động, như lần xảy ra ở Luân Đôn năm 2011. Ành: EPA

Phương pháp mới phòng chống tội phạm
Mỗi viên đạn chứa một mã ADN duy nhất. Ảnh: Alamy.com
Selectmark cho biết hệ thống đánh dấu của họ, bao gồm súng, có thể dùng để đánh dấu đoạn mã ADN nhân tạo lên các vật dụng giá trị trong nhà hay trên người các nghi phạm.
Mỗi một băng đạn ADN sẽ có một mã ADN duy nhất, do đó khi một nghi can bị dính đạn thì hắn ta sẽ có thể bị truy ra bằng phương pháp kiểm tra ADN.
Sau mỗi vụ việc, các mã ADN sẽ được ghi lại trong dữ liệu của cảnh sát, nếu sau đó các mã này được phát hiện trên người kẻ tình nghi, hắn ta sẽ được xem là có liên quan đến sự kiện tương ứng.
Theo nhà sản xuất thì các đoạn mã ADN chứa trong viên đạn hoàn toàn được tạo bằng máy tính nên số lượng mã là vô hạn. Hệ thống không thể bị hack do cần phải có một “mã đặc biệt” để giải mã các đoạn ADN. Do đó, các đoạn mã của cảnh sát không thể copy hay tạo ra bởi bên thứ ba. Đạn ADN không gây thương tích hay ngộ độc đối với nghi can và dấu vết để lại trên người kẻ tình nghi chỉ bị phát hiện dưới ánh đèn tia UV.

Bí mật cải lão hoàn đồng dựa vào “đồng hồ ADN”

Các nhà khoa học đến từ Mỹ đã khám phá ra đồng hồ sinh học của cơ thể dựa trên ADN. Khi chiếc đồng hồ này được quay trở về 0, tức ở trạng thái giống như tế bào gốc, sẽ có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa hay xa hơn nữa là làm trẻ hóa các bộ phận trong cơ thể, giúp giảm các nguy cơ mắc bệnh hiểm nghèo khi con người ở tuổi xế chiều.>> xét nghiệm adn gentis

Sốc cải lão hoàn đồng dựa vào “đồng hồ ADN”

Nhà nghiên cứu đến từ Mỹ, Steve Horvarth, đã khám phá ra đồng hồ nội thể dựa trên ADN, có chức năng đếm tuổi sinh học của các tế bào và các cơ quan trong cơ thể. Chiếc đồng hồ này cho thấy trong khi nhiều mô khỏe mạnh già đi cùng nhịp độ với cơ thể, một vài trong số chúng lại có tốc độ lão hóa nhanh hơn hay chậm hơn. Tuổi của các cơ quan mang bệnh lại có sự khác biệt lớn, có thể già hơn đến 10 năm so với các bộ phận khỏe mạnh khác trong cùng một cơ thể.
Các nhà nghiên cứu cho rằng nếu làm sáng tỏ được cơ chế đằng sau chiếc đồng hồ này, họ sẽ có thể hiểu hơn quá trình lão hóa và nhiều hy vọng tìm ra loại thuốc hay cách thức can thiệp để làm chậm lại.
Những liệu pháp chống lại quá trình lão hóa tự nhiên luôn thu được sự quan tâm từ giới khoa học, bởi vì phần lớn các bệnh nan y đều có nguy cơ xuất hiện cao ở tuổi già. “Cuối cùng, thật phấn khích khi có thể phát triển các liệu pháp can thiệp để đưa chiếc đồng về trạng thái ban đầu mà nhiều hy vọng sẽ giúp chúng ta trẻ mãi.” Giáo sư di truyền học và sinh học phân tử Steve Horvath đền từ trường Đại học California Los Angeles chia sẻ.
Horvath đã nghiên cứu hơn 8000 mẫu từ 51 tế bào và mô khỏe mạnh cũng như bị ung thư. Cụ thể hơn, ông đã theo dõi quá trình methyl hóa, một quá trình tự nhiên làm thay đổi thành phần hóa học của ADN, thay đổi theo độ tuổi.
Horvath phát hiện ra quá trình methyl hóa của 353 chuỗi ADN thay đổi giống như nhau theo độ tuổi, và có thể được sử dụng như một chiếc đồng hồ sinh học. Nhịp đồng hồ nhanh nhất trong khoảng 20 năm đầu đời, sau đó chậm dần đến một nhịp điệu ổn định. Các nhà khoa học đang rất muốn tìm ra câu trả lời cho bài toán liệu sự thay đổi của ADN gây ra quá trình lão hóa hay tuổi tác làm biến đổi ADN.
“Liệu điều này có liên quan gì đến cơ chế điều khiển quá trình lão hoá, hay là một kết quả của tuổi tác? Tôi thật sự không biết. Tóc bạc là một dấu hiệu của tuổi già nhưng không ai nói là tóc bạc làm người ta già.” Horvath trả lời phỏng vấn báo The Guardian.
Horvath đã nghiên cứu hơn 8000 mẫu từ 51 tế bào và mô khỏe mạnh cũng như bị ung thư. Ảnh: 9iolo.com
Chiếc đồng hồ đã hé lộ một số kết quả hết sức thú vị. Thử nghiệm trên mô tim khỏe mạnh cho thấy tuổi sinh học của nó trẻ hơn khoảng 9 năm so với dự kiến. Mô từ ngực phụ nữ già đi nhanh hơn phần còn lại của cơ thể, với thời gian trung bình là 2 năm. Các mô mắc bệnh cũng già đi với tốc độ khác nhau, ung thư sẽ làm cho đồng hồ chạy nhanh hơn vào khoảng 36 năm. Một vài mô ung thư não từ trẻ em có tuổi sinh học hơn 80 năm.>> dịch vụ xét nghiệm ADN
“Mô ngực phụ nữ, ngay cả nếu khỏe mạnh, dường như già hơn mô ở các vị trí khác trong cơ thể. Phát hiện này lý giải phần nào ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ. Ngoài ra tuổi già cũng là một nguy cơ chính dẫn dến ung thư, do đó những kết quả này cho biết tại sao ung thư vú lại phổ biến như vậy,” Hovarth trình bày. Kết quả thử nghiệm cho thấy các mô khỏe mạnh xung quanh khối u trong ngực trung bình trẻ hơn 12 tuổi so với phần còn lại của cơ thể người phụ nữ.
Trong tương lai không xa liệu pháp gen sẽ kéo dài tuổi thanh xuân. Ảnh: 9iolo.com
Trong một bài viết đăng trên tạp chí Genome Biology, Horvath cho biết khi tế bào lấy ra từ người trưởng thành được lập trình trở về trạng thái như tế bào gốc thì đồng hồ sinh học sẽ quay về 0. Quá trình biến đổi tế bào người trưởng thành về tế bào gốc (có thể phát triển tại bất cứ mô nào trong cơ thể) đã được trao giải Nobel 2012, vinh danh Sir John Gurdon từ Đại học Cambridge và Shinya Yamanaka thuộc Đại học Kyoto.
“Đó là bằng chứng cụ thể cho ý tưởng con người có thể quay ngược thời gian,” Horvath trình bày. Hiện nay các nhà nghiên cứu muốn thử nghiệm để thấy cách mà các bệnh làm suy giảm neuron thần kinh và các bệnh truyền nhiễm gây tác động lên đồng hồ sinh học hay bị tác động ngược lại.

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2019

Gene ADN cho ta biêt không một ai là hoàn hảo cả

Chúng ta đều biết rằng không có người nào là hoàn hảo, nhưng hiện nay khoa học đã chứng minh được điều này này ở cấp độ gen di truyền. Các nhà nghiên cứu đã rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng những người đang sống khỏe mạnh và đi lại bình thường lại đồng thời mang trong người một số lượng lớn các đột biến gen.>> Xét nghiệm ADN làm thẻ ADN cá nhân

Gen ADN cho ta biêt không có ai là hoàn hảo cả

Một thực tế đã được công nhận rộng rãi là ai cũng đều có khiếm khuyết trong ADN nhưng phần lớn những khiếm khuyết này lại vô hại. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa xác định chính xác có bao nhiêu lỗi đang tiềm ẩn trong bộ gen của một con người.
“Đó là một câu hỏi thú vị mà suốt thời gian qua con người đã cố gắng tiếp cận gián tiếp từ nhiều hướng để tìm ra đáp án. Người ta ước tính có từ một vài đến 100 hoặc hơn đột biến gen liên quan đến các bệnh hiểm nghèo.” Chris Tyler-Smith của Viện Wellcome Trust Sanger tại Cambridge, Vương Quốc Anh cho biết.
Tuy nhiên Tyler-Smith và cộng sự muốn có một ước tính trực tiếp và chính xác hơn, do đó họ đã tiến hành phân tích ADN của 179 người đến từ Mỹ, Nhật, Trung Quốc và Nigeria tình nguyện tham gia giải mã hoàn toàn bộ gen qua Dự án 1000 bộ gen. Kết quả được đăng tải trên tạp chí American Journal of Human Genetics cho biết những bất ngờ lớn. “Chúng tôi đã phát hiện ra một số luợng lớn đột biến gen là tác nhân gây ra các căn bệnh hiểm nghèo,” Tyler-Smith cho biết.
Khi giải trình tự gen của 179 người, các nhà hoa học đã phát hiện số lượng các khiếm khuyết ở đoạn As, Ts, Gs và Cs nhiều hơn so với dự đoán. Ảnh: iStockphoto.com
Theo kết quả nghiên cứu, một người có trung bình khoảng 400 lỗi trong bộ gen, trong đó có ít nhất vài lỗi liên quan đến bệnh tật. Điều lạ lùng là không có ai trong số những người được kiểm tra ADN mang bệnh trong người. Họ đều ở trong tình trạng sức khỏe tốt.
“Có thể trong một số trường hợp có một bản sao của gen hay gen tương đương đóng vai trò thay thế,” Tyler-Smith giải thích.>> Giá làm thẻ ADN cá nhân
Cứ 1 trong số 10 người tham gia thí nghiệm được phát hiện có đột biến gen mà lẽ ra đã phát thành bệnh nhưng thực tế lại không. Từ đó Tyler-Smith có một giả thuyết.
“Thật đáng ngạc nhiên khi chúng tôi phát hiện ra những đột biến gen gây bệnh trong bộ gen của những người đang khỏe mạnh và đi lại bình thường. Tuy nhiên, câu trả lời có thể là những đột biến này có xu hướng tác động không đáng kể và phát tác chậm. Ví dụ như bệnh tim hay khả năng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư.”
Chúng ta đều là người đột biến. Ảnh: 20th Century Fox
Các nhà nghiên cứu khác đã rất ủng hộ công trình nghiên cứu giúp làm sáng tỏ mối quan hệ thật sự giữa đột biến gen và bệnh tật. “Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy con số và tỷ lệ mà họ đã phát hiện ra,” Robert Green, nhà di truyền học thuộc Đại học Harvard chia sẻ. Nhưng Green và các người khác cũng bày tỏ sự quan ngại về tác động tiêu cực từ kết quả nghiên cứu này, bởi vì những đột biến gen có thể được dễ dàng phát hiện trên diện rộng thông qua giải trình tự gen. Điều này sẽ làm người ta khiếp sợ, và hoá ra lại không mang lại kết quả gì.
“Tôi cho rằng đơn thuốc cho những trường hợp này, vốn cần được nhấn mạnh nhiều lần, là chúng ta đang bước vào thời đại mới của nền y học liên quan mật thiết đến gen, việc có một đột biến trong bộ gen gây bệnh không có nghĩa là bạn đang mang bệnh hay sẽ mắc bệnh đó,” Green trình bày.
Đồng tình với ý kiến trên, James Evans của Đại học Bắc Carolina cho rằng, những nghiên cứu mới này cho thấy đã đến lúc chúng ta làm quen với ý nghĩ không có ai là hoàn hảo. Còn rất xa mới đạt được.
“Chúng ta đều là người đột biến. Tin tốt là phần lớn những đột biến này rõ ràng không gây hại, và có vẻ như là chúng ta có các cơ chế dự phòng và thay thế để giải quyết những vấn đề này,” Evans chia sẻ.

Thụ cấy tinh ở ống nghiệm còn tùy thuộc vào nguồn gen

Các nhà nghiên cứu đến từ trường Đại học Nottingham Vương quốc Anh vừa công bố kết quả nghiên cứu cho tỉ lệ thành công khi cùng sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo trên phụ nữ da trắng cao hơn so với phụ nữ châu Á và phụ nữ da đen.>> trung tâm xét nghiệm adn

Thụ tinh ở ống nghiệm còn phụ thuộc nguồn gen

Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilisation – IVF) hiện nay đạt tỷ lệ mang thai tăng lên đáng kể so với trước đây nhờ những tiến bộ trong y học. Theo các báo cáo y khoa của Canada năm 2006, tỷ lệ mang thai thành công 35%. Một nghiên cứu độc lập của Pháp ước đoán khoảng 66% phụ nữ bắt đầu áp dụng phương pháp này và cuối cùng đã có con (40% trong quá trình điều trị bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại trung tâm và 26% sau khi gián đoạn thụ tinh trong ống nghiệm). Việc có con sau khi ngừng điều trị bằng thụ tinh trong ống nghiệm chủ yếu là nhận con nuôi (46%) hoặc mang thai tự nhiên (42%).
Việc nâng cao tỷ lệ thụ thai bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm luôn là mục tiêu hàng đầu của các giới y khoa. Mặc dù các nhà khoa học chưa tìm ra được câu trả lời rõ ràng cho tỷ lệ thành công không giống nhau giữa phụ nữ da trắng, da vàng và da đen, nhưng nhiều khả năng do gen di truyền cũng như tác động của các yếu tố ngoại cảnh như xã hội và môi trường.
Trong nghiên cứu này, các chuyên gia tiến hành khảo sát kết quả IVF đối với 1.517 phụ nữ ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới được điều trị trong giai đoạn từ năm 2006-2011. Theo thống kê cho thấy, tỷ lệ thành công giữa các nhóm phụ nữ này là khác nhau, chỉ có 35% phụ nữ châu Á và phụ nữ da đen mang thai và sinh con thành công sau khi sử dụng phương pháp IVF so với tỷ lệ 44% của phụ nữ da trắng.
Yếu tố quyết định tỷ lệ thành công thụ tinh trong ống nghiệm vẫn còn là dấu hỏi. Ảnh: Mirror
Kết quả cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mang thai và sinh con thành công giữa các nhóm phụ nữ thuộc sắc tộc khác nhau có sự chênh lệch. Chỉ có 21,4% phụ nữ đến từ Trung Á mang thai và sinh con thành công sau khi áp dụng phương pháp IVF, trong khi tỷ lệ ở phụ nữ có gốc từ khu vực châu Phi và Caribbean là 23,3% và ở phụ nữ đến từ khu vực Đông Nam Á là 38%.
Tiến sỹ Walid Maalouf, trưởng nhóm nghiên cứu, cho hay hiện vẫn chưa rõ về nguyên nhân dẫn tới sự chênh lệch này. Ông nhấn mạnh rằng cần phải tiến hành nghiên cứu về gen xem đó có phải là yếu tố quyết định đến kết quả của phương pháp IVF hay không. Đồng thời phải khảo sát thêm ảnh hưởng từ lối sống và các yếu tố văn hóa khác nhau giữa các khu vực. Qua đó xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đối với xác suất thành công của kỹ thuật IVF.
Các nhà khoa học tin rằng kết quả nghiên cứu này có thể được sử dụng trong việc tư vấn cho các cặp vợ chồng về khả năng thành công trong thực tế khi họ sử dụng phương pháp IVF. Hiện nay, có đến 2/3 các cặp vợ chồng không thành công ở lần đầu tiên sử dụng phương pháp IVF.>> https://phantichadn.com/dich-vu
Quá trình thụ tinh nhân tạo. Ảnh: Alamy.com
Thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilisation – IVF)là một phương pháp thụ tinh nhân tạo được áp dụng khi phương pháp thụ tinh tự nhiên không thể thực hiện, nguyên lý cơ bản là trứng được thụ tinh bằng tinh trùng bên ngoài cơ thể, trong ống nghiệm. Gonadotrophin sẽ được tiêm vào người phụ nữ để kích thích trứng lớn. Quá trình tiêm thuốc được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ để bảo đảm lượng hormone đưa vào cơ thể đúng định lượng, sau đó sẽ bác sĩ tiến hành siêu âm để phát hiện những trứng đạt yêu cầu.
Khi trứng đạt kích thước cần thiết, chúng sẽ được hút ra khi đã chín nhưng chưa tự phóng. Hormone gondotropins, loại hóc môn gây tắt kinh nguyệt của người được dùng để kích thích rụng trứng. 36 Giờ sau, bào tương (chứa tế bào trứng) sẽ được lấy ra theo đường âm đạo (bằng kim và siêu âm). Các trứng trong bào tương sẽ được thụ tinh với tinh trùng đã được chuẩn bị sẵn. Hai trứng đã thụ tinh sẽ được đưa lại vào tử cung người phụ nữ.

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2019

Nhận diện kẻ tội phạm bởi loại khói ADN

Hãy thử tưởng tượng cảnh kẻ gian đột nhập vào kho hàng công ty của bạn vào ngày nghỉ cuối tuần, chuông báo động reo inh ỏi nhưng bọn chúng đã kịp tẩu thoát với toàn bộ số hàng hóa trước khi cảnh sát có mặt. Camera an ninh chỉ ghi được những hình ảnh mờ ảo, không đủ rõ nét để làm bằng chứng xác định nghi phạm. Tuy nhiên, hệ thống đánh dấu bằng ADN có thể làm thay đổi điều đó.>> https://phantichadn.com/bang-gia-xet-nghiem-adn-huyet-thong

Nhận diện kẻ tội phạm bởi loại khói ADN

Thông thường, để truy tìm nghi phạm thông qua ADN, bắt buộc phải có mẫu của kẻ tình nghi để lại hiện trường dưới hình thức này hay hình thức khác. Bởi vì không phải lúc nào cũng thu được mẫu, do đó vai trò của công nghệ ADN trong khoa học hình sự mặc dù được đánh giá cao, nhưng vẫn còn một số giới hạn nhất định.
Công ty Applied DNA Sciences (ADNAS) đã phát triển một phương pháp đánh dấu mới bằng ADN nhằm tạo nên hướng tiếp cận mới trong vấn đề nhận dạng tội phạm. Sự khác biệt là thay vì đánh dấu hàng hóa, họ sẽ đánh dấu kẻ trộm bằng ADN. Mặc dù phương pháp này đã được ứng dụng bằng súng ADN và đạn đánh dấu lên nghi can đang trên đường tẩu thoát, Nhận diện kẻ tội phạm bởi loại khói ADNADNAS đã theo đuổi một cách làm thông minh hơn.
Trong những năm qua, ngành ngân hàng đã cột những bao tiền bằng các túi mực có khả năng tự nổ, có thể đánh dấu kẻ cướp và số tiền bên trong. Hệ thống của ADNAS hoạt động dựa trên nguyên lý tương tự, nhưng có cách thực hiện khác.
Túi mực nổ và đánh dấu lên tiền bị cướp. Ảnh: Wikipedia
Khói ADN là hệ thống sử dụng hơi nước chứa các phân tử khí trơ ADN đã được giải trình tự. Các phân tử ADN (hãng Applied DNA đặt tên là SigNature DNA – Chữ ký ADN) được tạo ra bằng máy, do đó một chuỗi ADN với 20 cặp có thể tạo ra hơn một tỷ cách kết hợp không trùng lặp. Một hệ thống an ninh có thể chỉ cần một chuỗi ADN cho một khu vực, hay mỗi chuỗi cho từng vị trí trong khu vực đó, thậm chí có thể sử dụng các thẻ RFID tạo thành một hệ thống phun sương để phun một mã ADN duy nhất lên mỗi món hàng hoá mất cắp.
Khi được phun đi, các phân tử ADN sẽ bán lên đầu tóc, quần áo, giày dép, da và cả món đồ bị đánh cắp. Việc này cũng tương tự như làm mực đánh dấu của ngân hàng, chỉ khác một điều là bọn cướp không hề biết tí gì về việc đã bị đánh dấu.>> Giá làm thẻ ADN cá nhân
Rất khó để chùi rửa dấu vết ADN khỏi người nghi phạm, hay quần áo, giày dép và dụng cụ. Có dùng cách nào để tẩy rửa đi nữa, nghi phạm cũng sẽ dễ dàng bị phát hiện có liên quan đến vụ việc gây án, cho dù có cách thời điểm xảy ra ít nhất hai tuần hoặc có thể lên đến hàng năm.
Danh tính kẻ trộm có thể dễ dàng được xác định bằng các phân tử ADN lưu lại trên người và vật dụng. Ảnh: Shutterstock
Khi nghi can bị bắt giữ, cảnh sát sẽ khám xét người và quần áo (sau đó có thể là căn hộ và xe), sau đó tiến hành phân tích mẫu ADN bằng chuỗi phản ứng polymeraza (Polymerase Chain Reaction) có tác dụng khuếch đại và nhân bội ADN đến mức có thể đọc được. Khuếch đại và nhân bội mẫu ADN sẽ giúp quá trình phân tích và giám định thực hiện dễ dàng. Về tổng thể quá trình này đủ đơn giản và rẻ tiền để người không có chuyên môn cũng có thể làm được.
Liệu khói ADN có thể bị qua mặt? Có một vài phương pháp làm được. Cách đơn giản là mặc một bộ đồ bảo hộ với mặt nạ của thợ lặn. Kỹ thuật cao hơn thì làm nhiễu hệ thống Khói ADN, bằng cách tắm với xà bông chứa hàng triệu mẩu ADN giả, sẽ rất khó để tìm ra đúng chuỗi ADN đã được đánh dấu. Nói đơn giản là mò kim đáy biển.

Gợi ý quy trình bào chế vaccine HIV từ gen nhân tạo

Một loại vaccine HIV mới chứa gen nhân tạo có khả năng tạo ra phản ứng của hệ miễn dịch, hứa hẹn mang đến phương pháp mới bảo vệ con người khỏi virus HIV khi mà các phương pháp khác đều đã thất bại.>> Xét nghiệm ADN hành chính

Tìm hiểu quy trình bào chế vaccine HIV từ genne nhân tạo

Phần lớn các vaccine hoạt động bằng cách chỉ cho các tế bào miễn dịch gọi là B-cell sản xuất ra kháng nguyên chống lại một loại virus. Một cách khác là kích thích tế bào miễn dịch T-cell tiêu diệt các tế bào bị virus lây nhiễm.
Những loại vaccine T-cell trước đây đã thất bại thảm hại do virus HIV có khả năng biến dị nhanh chóng và trốn thoát. Để giải quyết vấn đề này, Tiến sỹ Lucy Dorrell và các cộng sự tại trường Đại học Oxford đã tạo ra một gen nhân tạo bằng cách kết hợp 14 phân vùng trong bộ gen của virus HIV, những phân vùng này không có xu hướng đột biến vì nếu làm thế thì sẽ đe dọa đến sự sinh tồn của bản thân HIV. Như thế thì vaccine chỉ cần cho hệ miễn dịch biết là phải tập trung truy lùng vào các phân đoạn gen cụ thể được bảo toàn, Dorrell cho biết.
Ba mũi giáp công
Để hệ miễn dịch có thể nhận thấy gen nhân tạo này, người ta đã đưa nó vào bằng 3 vật chủ: 2 virus đã được làm suy yếu và một vòng ADN tự do gọi là plasmid. Bởi vì vaccine thường cần phải được tiêm vài lần để tạo ra phản ứng đáng kể từ hệ miễn dịch, nhóm nghiên cứu hy vọng với cách tiếp cận từ 3 hướng này sẽ làm tăng cơ hội tế bào miễn dịch T-cell đáp lại gen nhân tạo, thậm chí ngay cả khi tế bào B-cell đã nhận diện và tấn công các vật chủ này.
Rõ ràng là khi cả 3 vật chủ chứa gen nhân tạo được tiêm riêng rẽ vào người khỏe mạnh theo thứ tự cách nhau vài tuần cho đến vài tháng, cơ thể người tình nguyện đã sản sinh ra T-cell đáp ứng lại nhiều phân vùng cụ thể trong tổng số 14 phân vùng gen của HIV, một số có đáp ứng mạnh hơn số khác. Khi các T-cell này được cho tiếp xúc với chính tế bào bị nhiễm HIV của tình nguyện viên trong môi trường phòng thí nghiệm, chúng ngăn chặn quá trình nhân bản virus.
Thử nghiệm trên người
Nhóm nghiên cứu hiện tại đang hoàn thiện cách kết hợp các vật chủ chứa gen, và hy vọng sẽ bắt đầu thí nghiệm thứ hai tại Nairobi, Kenya vào tháng 3-2014. Những người có nguy cơ nhiễm HIV cao sẽ được tiêm vaccine nhằm theo dõi liệu giải pháp này có thể giúp giảm bớt tỷ lệ lây nhiễm. Những người tham gia sẽ được khuyến cáo nên tránh khỏi các nguồn lây nhiễm dù cho họ đã được tiêm vaccine hay chưa.
4 đường lây nhiễm HIV/AIDS, hãy phòng tránh vì gia đình bạn. Ảnh: health.uml.edu
“Công trình này thể hiện một bước tiến đáng kể trong việc chế tạo các loại vaccine nhằm mục đích mang đến cho hệ miễn dịch khả năng tiêu diệt các tế bào bị nhiễm HIV” Giáo sư Robin Shattock từ trường Cao đẳng Imperial London chia sẻ. Steven Patterson, cũng đến từ trường Imperial London, cùng quan điểm rằng những phát hiện mới này rất hứa hẹn, nhưng những nghiên cứu sắp tới cần tập trung vào việc tăng số lượng đáp ứng từ nhiều phân vùng hơn nữa của gen nhân tạo. “Hiện tại, chúng tôi chỉ không biết là liệu sự đáp ứng cao đến một hay hai phân vùng được bảo toàn là đủ để bảo vệ hay chi phối sự lây nhiễm virus.”
Virus HIV. Ảnh: Shutterstock
(Wikipedia) HIV (Human Immunodeficiency Virus – virus suy giảm miễn dịch ở người) là một lentivirus (thuộc họ retrovirus) có khả năng gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), một tình trạng làm hệ miễn dịch của con người bị suy giảm cấp tiến, tạo điều kiện cho những nhiễm trùng cơ hội và ung thư phát triển mạnh làm đe dọa đến mạng sống của người bị nhiễm.
HIV lây nhiễm vào các tế bào quan trọng trong hệ thống miễn dịch của con người như lympho bào T có tính bổ trợ (cụ thể là những tế bào T – CD4+), đại thực bào và tế bào tua. Nhiễm HIV làm giảm mạnh số lượng tế bào CD4+ thông qua 3 cơ chế chính: đầu tiên, virus trực tiếp giết chết các tế bào mà chúng nhiễm vào, sau đó làm tăng tỷ lệ chết rụng tế bào ở những tế bào bị nhiễm bệnh, bước 3 là các lympho bào T độc (CD8) giết chết những lympho bào T – CD4+ bị nhiễm bệnh. Khi số lượng các tế bào CD4+ giảm xuống dưới một mức giới hạn nào đó, sự miễn dịch qua trung gian tế bào bị vô hiệu và cơ thể dần dần yếu đi tạo điều kiện cho các nhiễm trùng cơ hội.>> https://phantichadn.com/tong-hop-bang-gia-xet-nghiem-adn-tai-gentis

Tìm hiểu bí ẩn ADN của người tiền sử Neanderthal

Bằng phương pháp loại bỏ tạp nhiễm từ gen người hiện đại, các nhà khoa học đã giám định thành công ADN từ hài cốt hóa thạch của người tiền sử Neanderthal được phát hiện trong một hang động thuộc vùng Siberia.>> phân tích adn

Bất ngờ bí ẩn ADN của người tiền sử Neanderthal

Phương pháp này, đã được mô tả trong tuần san Proceedings of the National Academy of Sciences ngày 27/01/2014, dường như có thể áp dụng trên các mẫu bị tạp nhiễm nặng cũng như những hóa thạch cổ đại. Nhờ đó các nhà khoa học cuối cùng cũng có thể giám định được một vài trong số những mẫu hoá thạch người tiền sử thú vị nhất, vốn trước đây không thể thực hiện được vì bị nhiễm mẫu ADN của người hiện đại, nhà nghiên cứu cũng là đồng tác giả Pontus Skoglund của Đại học Uppsala tại Thụy Điển cho biết.
Cách đây hàng thập kỷ thậm chí hàng thế kỷ, các nhà khảo cổ đã khai quật được một số mẫu hoá thạch hài cốt người tiền sử thú vị nhất, chẳng hạn như xương người Neanderthal. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với mẫu hóa thạch, các nhà khảo cổ thường làm nhiễm mẫu ADN cổ xưa với các vật liệu di truyền hiện đại.
“Quả thật chúng tôi không thể đổ lỗi cho họ về việc này,” Skoglund chia sẻ với LiveScience. “Nhiều mẫu hóa thạch đã được khai quật trước khi con người biết đến sự hiện diện của ADN.” (ADN được phát hiện vào những năm cuối của thế kỷ 19 và những thông tin di truyền chứa trong nó chỉ được biết nhiều thập kỷ sau đó.) Khi chưa có phương pháp chắc chắn để loại bỏ tạp nhiễm khỏi các ADN cổ xưa, những bí mật di truyền vẫn nằm trong bóng tối.
Sự thoái hóa có thể dự đoán
Phương pháp giám định hài cốt mới này dựa trên quá trình thoái hóa có thể dự đoán của ADN theo thời gian. Một trong số các nucleotide, hay tổ hợp ADN, cytosine (C) có xu hướng chuyển hoá thành nucleotide khác, có thể là thymine (T) hay uracil (U). Quá trình này thường xảy ra nhiều nhất tại phần cuối của chuỗi ADN, nơi mà chuỗi xoắn kép gần như là ở dạng chuỗi đơn, Skoglund giải thích.
Tất các các nucleotide C’s, T’s và U’s trong ADN của mẫu hoá thạch sẽ được theo dõi và so sánh với một bảng trình tự gen của người hiện đại. Dựa trên sự khác biệt giữa ADN hóa thạch và bản đồ gen hiện đại, kết hợp với hiểu biết về cách thức chuyển hoá của nucleotide theo thời gian, nhóm nghiên cứu có thể ước tính mức độ thoái hóa của mẫu xét nghiệm, từ đó suy ra tuổi của nó. Nếu ADN còn quá trẻ, thì nó sẽ bị loại bỏ.
Người Neanderthal nguyên thủy sống ở châu Âu cách đây khoảng 350.000–600.000 năm. Ảnh: bbc.co.uk
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm bằng cách phân tích vật liệu di truyền của một người tiền sử Neanderthal được phát hiện ở hang Okladnikov thuộc Siberia. Ty thể (ADN đuợc di truyền từ mẹ và có trong bào quan) của người Neanderthal này có quan hệ rất gần gũi với mẫu người Neanderthal phương tây được phát hiện trước đây.
Nhà nghiên cứu Pontus Skoglund. Ảnh: sverigesradio.se
Kết quả thu được còn khả quan hơn trên các mẫu ADN xưa hơn, bởi vì nó thoái hóa nhiều hơn nên dễ phân biệt hơn với các mẫu gen hiện đại, Skoglund cho biết.
Cùng lúc này, các nhà khoa học đang tiến một bước dài trong việc trích xuất ADN nguyên thủy từ các hóa thạch cổ xưa, như hoá thạch người cổ 400.000 năm tuổi đầy bí ẩn trong hang Sima de los Huesos tại Tân Ban Nha.>> https://phantichadn.com/dich-vu
Như vậy nếu ADN có thể được trích xuất từ hóa thạch, kỹ thuật này có thể áp dụng trên xương của Homo erectus hay của “người lùn,” Homo floresiensis, cả hai mẫu đều chưa được giải mã bao giờ, Skoglund chia sẻ.
Những cơ hội mới
Nhiều mẫu trong số các hóa thạch quan trọng nhất đã bị tạp nhiễm. “Người ta đã tiếp xúc với các mẫu hài cốt mà không đeo găng tay hàng thế kỷ nay,” Beth Shapiro, nhà nghiên cứu sinh học tiến hóa tại Đại học California, Santa Cruz, người vốn không tham gia vào nghiên cứu này, chia sẻ trong một email.
Phương pháp giám định mới này “đưa chúng ta tiến một bước gần hơn tới khả năng có thể sử dụng ngay cả những mẫu hài cốt bị tạp nhiễm nặng nhất, từ đó mở ra nhiều vấn đề về tiến hóa,” Shapiro bày tỏ.
Những thông tin từ ADN của người Neanderthal hứa hẹn tiết lộ thêm về lịch sử tiến hóa của loài người. Ảnh: NASA/JPL-Caltech
Tuy nhiên phương pháp này cũng có một số hạn chế nhất định. Ví dụ như ADN của vi khuẩn thoái hoá không đáng kể, vì thế kỹ thuật này có thể đưa ra nhận định chưa chính xác khi nghiên cứu các vi khuẩn cổ xưa, Ludovic Orlando cho hay, nhà nghiên cứu đến từ Đại học Copenhagen, Đan Mạch, người không tham gia vào công trình nghiên cứu.
“Phương pháp hiện nay có thể dẫn đến tình trạng loại bỏ những dữ liệu đúng trong các trường hợp như trên,” Orlando trình bày với LiveScience. Hơn nữa, chi phí sẽ có thể bị đội lên nhiều, tùy thuộc vào mức độ tạp nhiễm, do phải giải trình tự một số lượng lớn ADN, do đó chỉ nên áp dụng phương pháp này cho những trường hợp thật đặc biệt, nhà nghiên cứu Carles Lalueza-Fox đến từ Đại học Pompeu Fabra, Tây Ban Nha, người không tham gia nghiên cứu này, đã viết trong một email.